Trao đổi với Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy, bà Trần Thị Thúy Ngọc, Phó Tổng giám đốc thường trực Deloitte Việt Nam cho rằng hoạt động quản trị của doanh nghiệp nhà nước cần có sự thay đổi về chất để thực thi quyền của chủ sở hữu tại doanh nghiệp có thực chất và có hiệu quả.
Theo quy định tại Luật số 69/2014/QH13 của Quốc hội về quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp, chủ sở hữu của doanh nghiệp nhà nước chính là Nhà nước, cụ thể hơn đó là các bộ ngành trung ương, UBND cấp tỉnh/thành phố, Ủy ban quản lý vốn, Tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước (SCIC). Thực thi quyền của Chủ sở hữu tại doanh nghiệp là Người đại diện phần vốn tại doanh nghiệp.
Câu chuyện đặt ra là Người đại diện phần vốn tại doanh nghiệp (Người đại điện) thực thi quyền của chủ sở hữu tại doanh nghiệp như thế nào?
Thực tế hiện nay tại các doanh nghiệp nhà nước, người đại diện lại là người được doanh nghiệp bổ nhiệm và trả lương, cách thức không khác so với người đại diện (được thuê tuyển) tham gia vào hội đồng quản trị, hay Ban điều hành/Ban giám đốc. Họ chỉ khác nhau về chức năng và nhiệm vụ được giao. Điều này ảnh hưởng khá lớn đến hiệu lực và hiệu quả công việc của Người đại điện và thường bị nhầm lẫn giữa người đại điện và thành viên Ban lãnh đạo doanh nghiệp, dẫn đến việc thực hiện quyền sở hữu thường bị xem nhẹ.
Hiện nay, Người đại diện thực thi quyền của Chủ sở hữu qua Quy chế Người đại diện. Quy chế này có vẻ như đang chưa phát huy được hiệu quả bởi việc chưa rõ ràng trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu dẫn tới quyền của Chủ sở hữu bị “phân tán” theo sự phân công trách nhiệm của những người đại diện, khó xác định được đơn vị/cá nhân chịu trách nhiệm cuối cùng về hiệu quả sử dụng vốn nhà nước tại doanh nghiệp cũng như kết quả kinh doanh và sự phát triển của doanh nghiệp nhà nước. Thậm chí, trong một số doanh nghiệp, việc có đại diện chủ sở hữu đến từ các bộ, UBND tỉnh trong hội đồng quản trị còn khiến việc thực hiện quyền và nghĩa vụ nặng tính hành chính, can thiệp chính trị.
Khi tham gia vào doanh nghiệp, Đại diện chủ sở hữu phải đảm nhận mục tiêu “kép”: vừa tham gia lãnh đạo/điều hành doanh nghiệp để vừa đảm bảo tăng trưởng lợi nhuận, hiệu quả kinh doanh và gia tăng giá trị doanh nghiệp, vừa đảm bảo mục tiêu đại diện ngành/lĩnh vực để đóng góp an sinh xã hội, an ninh ngành nghề trong an ninh kinh tế chung của đất nước. Điều này đôi khi làm nhiều Đại diện chủ sở hữu rất khó ra các quyết định với “tư duy doanh nhân” hướng tới hiệu quả quản lý vốn tối đa, mà phải “cân bằng” với một số mục tiêu quản lý ngành, mục tiêu xã hội chính trị.
Theo thông lệ tốt về Quản trị công ty, thành viên hội đồng quản trị phải trung thành với lợi ích của doanh nghiệp mà họ đang là thành viên, đồng thời phải ý thức rõ các quy tắc đạo đức kinh doanh trong doanh nghiệp, phòng tránh và ngăn chặn các yếu tố vi phạm nguyên tắc bảo mật thông tin hoặc gây xung đột lợi ích.
Điều này cho thấy, việc thực hiện “đa mục tiêu” rất khó đảm bảo sự phát triển bền vững cũng như tạo tính cạnh tranh thực sự cho doanh nghiệp.
Tách bạch quyền, trách nhiệm giữa hội đồng quản trị và Ban điều hành được coi là điều kiện tiên quyết cho Mô hình Quản trị công ty hiệu quả. Thông lệ Quản trị công ty tốt do Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế toàn cầu (OECD) hướng dẫn cũng nêu rõ là Tổng giám đốc không nên là thành viên hội đồng quản trị. Tuy nhiên, trong thực tế tại doanh nghiệp nhà nước vẫn còn rất nhiều Người đại diện giữ vai trò CEO và là thành viên hội đồng quản trị. Theo đó, tính độc lập trong việc ra quyết định của hội đồng quản trị sẽ bị ảnh hưởng ít nhiều bởi thành viên đại diện Ban điều hành là CEO. Khi cả Chủ tịch hội đồng quản trị và Tổng giám đốc đều là người đại diện vốn nhà nước thì quyền và trách nhiệm giữa các thành viên này có thể chồng chéo và đôi lúc có thể mâu thuẫn.
Thực tế hiện nay tại một số doanh nghiệp, Tổng giám đốc giữ vai trò điều hành và chịu trách nhiệm trực tiếp trước Nhà nước nên có xu hướng không chấp nhận một cách thực sự vai trò giám sát chiến lược của hội đồng quản trị hay thực hiện kênh báo cáo xin tham vấn từ hội đồng quản trị. Hội đồng quản trị chịu trách nhiệm và áp lực trong giám sát việc bảo toàn, phát triển vốn nhà nước thì có xu hướng can thiệp quá sâu vào công việc điều hành của Ban giám đốc. Chưa kể, hội đồng quản trị trong doanh nghiệp nhà nước không có thực quyền bổ nhiệm và miễn nhiệm vị trí tổng giám đốc.
Vậy nên việc cần tập trung để hoàn thiện mô hình Quản trị công ty là tách bạch vai trò CEO và xây dựng quy chế tương tác giữa hội đồng quản trị với CEO.
OECD đã đưa ra những nguyên tắc hướng dẫn về Quản trị công ty trong doanh nghiệp nhà nước. Đây là những nguyên tắc dành riêng cho doanh nghiệp nhà nước, bổ sung cho các nguyên tắc chung trong quản trị công ty áp dụng đối với mọi doanh nghiệp.
Điều kiện tiên quyết để hội đồng quản trị và những vấn đề trong hoạt động quản trị của doanh nghiệp nhà nước có sự thay đổi về chất là xây dựng một khuôn khổ pháp lý, tuân thủ và áp dụng hiệu quả cho loại hình doanh nghiệp này. Bên cạnh đó, cần có những thay đổi nhận thức quan trọng trong các chủ thể đóng vai trò chủ sở hữu Nhà nước và người làm đại diện của Nhà nước trong hội đồng quản trị.
Việc nhận đúng và thực sự coi Quản trị công ty là công cụ quản trị hiệu quả cần thay đổi từ các chủ sở hữu đích thực theo quy định của Luật 69, Người đại diện, và bản thân doanh nghiệp với những người trong đội ngũ lãnh đạo thuộc hội đồng quản trị và Tổng giám đốc, tăng cường thêm các thành viên hội đồng quản trị độc lập trong các hội đồng quản trị, và đa dạng kinh nghiệm của các thành viên hội đồng quản trị hiện tại. Cần có hướng dẫn trong việc bắt buộc học và nâng cao kiến thức thường niên về Quản trị công ty cho các thành viên hội đồng quản trị.
7 tháng năm 2026, nền kinh tế Việt Nam tiếp tục duy trì sự ổn định với những tín hiệu tích cực từ khu vực sản xuất và đầu tư công. Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước tăng 18,4% so với cùng kỳ, góp phần quan trọng thúc đẩy tăng trưởng; chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tăng 11,4%, đánh dấu mức tăng cao nhất trong nhiều năm qua. Đặc biệt, dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) giải ngân ước đạt 15,20 tỷ USD, thiết lập kỷ lục cao nhất của kỳ 7 tháng trong vòng 5 năm trở lại đây... Trong bối cảnh đó, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân 7 tháng tăng 4,39%, và lạm phát cơ bản được giữ ở mức 4,19%...
Áp lực giải ngân trong thời gian còn lại của năm 2026 rất lớn, song vấn đề đặt ra không chỉ là giải ngân hết vốn mà phải chuyển vốn ngân sách thành khối lượng công trình thực tế, năng lực sản xuất mới và giá trị gia tăng cho nền kinh tế.
Sau gần bốn thập kỷ thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, Việt Nam đang chuyển trọng tâm từ thu hút dòng vốn sang nâng cao chất lượng và giá trị. Theo HSBC, định hướng này được thể hiện trong Nghị quyết số 10-NQ/TW, với mục tiêu thu hút công nghệ, phát triển năng lực doanh nghiệp trong nước và tăng cường liên kết với chuỗi giá trị toàn cầu…
Khi giá cả biến động bất thường vượt khả năng dự báo, các bên có thể xem xét sửa đổi hợp đồng xây dựng trên cơ sở đánh giá thiệt hại, bảo đảm hài hòa lợi ích và chia sẻ rủi ro...
Sau chặng đường kinh tế nửa đầu năm 2026, câu hỏi đặt ra lúc này là liệu Việt Nam có thể đạt mục tiêu tăng GDP hai con số, đồng thời vẫn kiểm soát được lạm phát và giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô hay không? Đây không phải là sự lựa chọn giữa tăng trưởng hay ổn định. Vấn đề cốt lõi là chúng ta lựa chọn phương thức điều hành như thế nào để đạt được cả hai mục tiêu với chi phí thấp nhất.
Sáu tháng đầu năm 2026 khép lại với nhiều tín hiệu tích cực của nền kinh tế. Đằng sau những con số tăng trưởng là yêu cầu nhìn lại hiệu quả thực thi các quyết sách và nhận diện những động lực cần tiếp tục được khơi thông trong chặng đường còn lại của năm, hướng tới mục tiêu tăng trưởng hai con số.
Tại Họp báo Chính phủ thường kỳ do Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Đặng Xuân Phong chủ trì ngày 3/8, thông tin về tình hình phát triển kinh tế-xã hội tháng 7 và 7 tháng đầu năm cho thấy các ngành sản xuất duy trì xu hướng tích cực.