Năm 2026 là năm đầu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2026-2030, đồng thời là năm có quy mô vốn đầu tư công lớn nhất từ trước đến nay. Quốc hội giao tổng kế hoạch đầu tư vốn ngân sách nhà nước khoảng 1,08 triệu tỷ đồng; kế hoạch được Thủ tướng Chính phủ giao và cập nhật đến giữa tháng 7/2026 khoảng 1.014,2 nghìn tỷ đồng.
Mặc dù vậy, tiến độ thực hiện đầu tư công chưa tương xứng với quy mô vốn được giao. Theo Cục Thống kê, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 335,6 nghìn tỷ đồng, tăng 12,7% so với cùng kỳ nhưng thấp hơn đáng kể mức tăng 22,6% của cùng kỳ năm 2025.
Theo Bộ Tài chính, giải ngân vốn đầu tư công trong 6 tháng đầu năm 2026 đạt 356,9 nghìn tỷ đồng, bằng 35,5% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao; đến ngày 16/7/2026 đạt 378,01 nghìn tỷ đồng, tương đương 37,3% kế hoạch. Như vậy, áp lực giải ngân trong thời gian còn lại của năm rất lớn.
Vấn đề đặt ra không chỉ là giải ngân hết vốn, mà phải chuyển vốn ngân sách thành khối lượng công trình thực tế, năng lực sản xuất mới và giá trị gia tăng cho nền kinh tế. Do đó, cần chuyển trọng tâm điều hành từ theo dõi tỷ lệ giải ngân chung sang quản lý từng dự án, từng đường găng, từng điểm nghẽn và trách nhiệm của từng chủ thể.
Theo phương án giao đầu năm, tổng kế hoạch vốn ngân sách nhà nước là 995,35 nghìn tỷ đồng, gồm 345,12 nghìn tỷ đồng vốn ngân sách trung ương và 650,23 nghìn tỷ đồng vốn ngân sách địa phương. Sau các đợt cập nhật, điều chỉnh, kế hoạch đến giữa tháng 7 là 1.014,23 nghìn tỷ đồng.
Trong 6 tháng đầu năm 2026, giải ngân vốn đầu tư công đạt 356,9 nghìn tỷ đồng, bằng 35,5% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao và cao hơn 38,4 nghìn tỷ đồng so với cùng kỳ năm 2025. Tiến độ tiếp tục được cải thiện trong tháng 7, đến hết ngày 9/7/2026, số vốn giải ngân đạt 370,85 nghìn tỷ đồng, tương đương 36,8% kế hoạch; đến hết ngày 16/7/2026 đạt 378,01 nghìn tỷ đồng, bằng 37,3% kế hoạch 1.014,23 nghìn tỷ đồng được giao tại thời điểm báo cáo.
Tuy nhiên, số giải ngân phát sinh trong tuần từ ngày 10 đến 16/7/2026 chỉ đạt khoảng 7,16 nghìn tỷ đồng, bằng 72% tuần trước, cho thấy tốc độ giải ngân chưa thực sự ổn định. Đến ngày 16/7/2026, có 8 bộ, cơ quan trung ương và 22 địa phương đạt tỷ lệ giải ngân bằng hoặc cao hơn mức bình quân chung của cả nước.
Cần lưu ý sự khác biệt giữa “vốn đầu tư thực hiện” do cơ quan thống kê ước tính và “vốn giải ngân, thanh toán” qua hệ thống tài chính - kho bạc. Vốn đầu tư thực hiện phản ánh khối lượng đầu tư được tạo ra trong kỳ; trong khi giải ngân có thể bao gồm tạm ứng, thanh toán khối lượng từ kỳ trước hoặc các khoản chưa trực tiếp hình thành tài sản. Vì vậy, đóng góp của đầu tư công vào GDP chủ yếu phụ thuộc vào khối lượng đầu tư thực hiện, chứ không phải toàn bộ số vốn đã giải ngân, thanh toán.
Để đạt 95% kế hoạch, từ nửa cuối tháng 7 đến hết năm 2026 phải giải ngân thêm khoảng 585,5 nghìn tỷ đồng; để đạt 100% phải giải ngân thêm khoảng 636,2 nghìn tỷ đồng. Mức vốn cần giải ngân bình quân mỗi tháng trong thời gian còn lại xấp xỉ 100-110 nghìn tỷ đồng, cao hơn nhiều so với bình quân 6 tháng đầu năm 2026.
Nếu không thay đổi căn bản phương thức tổ chức thực hiện, tiến độ có thể tiếp tục dồn vào những tháng cuối năm. Điều này làm gia tăng rủi ro giải ngân mang tính kỹ thuật, tạm ứng nhưng chưa có khối lượng tương ứng; gây áp lực lên năng lực nhà thầu, nguồn vật liệu, nghiệm thu và kiểm soát thanh toán; đồng thời làm giảm tác động thực tế đối với GDP năm 2026.
Đầu tư công tác động đến tăng trưởng thông qua ba kênh chủ yếu. Thứ nhất, tác động trực tiếp thông qua cấu phần tích lũy tài sản trong GDP theo phương pháp sử dụng. Chi đầu tư cho xây dựng công trình, máy móc, thiết bị và tài sản cố định làm tăng tổng vốn đầu tư toàn xã hội và tổng cầu.
Thứ hai, tác động gián tiếp thông qua nhu cầu đối với xây dựng, vật liệu, cơ khí, vận tải, tư vấn, tài chính và các dịch vụ hỗ trợ. Sáu tháng đầu năm 2026, tổng vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội đạt 1.807,8 nghìn tỷ đồng, tăng 12,9%; trong đó, vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước đạt 335,6 nghìn tỷ đồng, chiếm khoảng 18,6%. Điều này cho thấy đầu tư công đang tạo ra một bộ phận quan trọng của nhu cầu đầu tư trong nền kinh tế.
Thứ ba, tác động lan tỏa thông qua việc giảm chi phí logistics, tăng khả năng kết nối vùng, cải thiện cung ứng điện, hạ tầng số, thủy lợi và khả năng chống chịu thiên tai. Khi dự án công được hoàn thành và đưa vào sử dụng, đầu tư công có thể kích hoạt thêm đầu tư tư nhân và nâng cao năng suất tiềm năng.
Tuy nhiên, không phải toàn bộ vốn giải ngân đều làm tăng GDP trong năm. Chi bồi thường, giải phóng mặt bằng chủ yếu là chuyển giao tài sản; tạm ứng chưa chuyển thành khối lượng thi công chưa tạo ra giá trị tăng thêm; thiết bị và nguyên vật liệu nhập khẩu làm tăng nhập khẩu; thanh toán nợ khối lượng từ năm trước không phải toàn bộ là sản lượng mới của năm 2026. Đây là lý do không thể coi một đồng giải ngân đồng nghĩa với một đồng GDP tăng thêm.
Sử dụng phương pháp kịch bản, so sánh với năm 2025 (755,14 nghìn tỷ đồng) và nhân với “hệ số tác động trong năm” (khoảng 0,4-0,7, trong đó hệ số 0,4 phù hợp với kết quả nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới tại các nước đang phát triển, mức cao hơn được áp dụng cho trường hợp đầu tư tập trung vào dự án có tỷ lệ nội địa hóa cao, sớm đưa vào sử dụng và tạo hiệu ứng kéo đầu tư tư nhân), kết quả cho thấy:
Nếu giải ngân đạt khoảng 95% kế hoạch, phần đầu tư công tăng thêm so với năm 2025 có thể tạo ra mức tác động tiềm năng quy đổi tương đương khoảng 0,89% quy mô GDP năm 2025. Nếu đạt 100%, đồng thời vốn được chuyển nhanh thành khối lượng thực hiện, có tỷ lệ giá trị gia tăng trong nước cao và kích hoạt đầu tư tư nhân, mức tác động tiềm năng có thể tương đương khoảng 1,41% quy mô GDP năm 2025. Ngược lại, nếu giải ngân chỉ đạt 90%, mức tác động ước tính tương đương khoảng 0,49%.
Các con số trên là kết quả mô phỏng kịch bản, phản ánh mức tác động tiềm năng quy đổi tương đương so với quy mô GDP theo giá hiện hành năm 2025, không phải tỷ trọng tuyệt đối của toàn bộ đầu tư công trong GDP. Một phần tác động của đầu tư công đã được phản ánh trong kết quả GDP 6 tháng đầu năm 2026; phần đóng góp thực tế còn phụ thuộc vào thời điểm tạo ra khối lượng, chỉ số giá đầu tư, mức nhập khẩu và khả năng hấp thụ của nền kinh tế.
Có 5 nguyên nhân chính có thể dẫn tới việc chậm giải ngân như sau.
Một là, chuẩn bị đầu tư và phân bổ vốn chưa sát khả năng thực hiện. Chất lượng chuẩn bị dự án vẫn là điểm nghẽn có tính nền tảng. Một số dự án được bố trí vốn khi thủ tục đầu tư, thiết kế kỹ thuật, dự toán, đánh giá tác động môi trường hoặc mặt bằng chưa hoàn tất. Khảo sát địa chất, xác định nhu cầu vật liệu và dự báo tổng mức đầu tư chưa sát thực tế dẫn đến phải điều chỉnh dự án, kéo dài thời gian đấu thầu và thi công.
Việc xây dựng kế hoạch vốn ở một số nơi còn dựa nhiều vào nhu cầu đăng ký, chưa căn cứ đầy đủ vào tiến độ thực tế và năng lực hấp thụ. Hệ quả là có dự án thiếu vốn khi có khối lượng, trong khi dự án khác được giao vốn lớn nhưng không thể triển khai.
Hai là, giải phóng mặt bằng tiếp tục là điểm nghẽn lớn nhất tại hiện trường. Khó khăn tập trung ở xác định nguồn gốc đất, giá bồi thường, bố trí tái định cư, chuyển đổi mục đích sử dụng đất và phối hợp giữa chủ đầu tư với chính quyền cơ sở. Nhiều dự án chỉ được bàn giao mặt bằng từng đoạn, không liên tục, khiến nhà thầu không thể tổ chức thi công theo dây chuyền và làm tăng chi phí.
Việc chuẩn bị khu tái định cư thường đi sau yêu cầu thu hồi đất; chính sách hỗ trợ sinh kế và đồng thuận với người dân chưa được xử lý từ sớm. Đối với dự án liên vùng, tiến độ của toàn tuyến có thể bị quyết định bởi một số vị trí mặt bằng chưa được bàn giao.
Ba là, vướng mắc về vật liệu, giá và năng lực nhà thầu. Một số dự án giao thông lớn đồng thời triển khai tạo ra nhu cầu rất cao về cát, đất đắp, đá xây dựng và bãi đổ thải. Thủ tục cấp phép, nâng công suất hoặc giao mỏ vật liệu trong một số trường hợp chưa theo kịp tiến độ thi công. Biến động giá nguyên, nhiên, vật liệu làm giảm hiệu quả hợp đồng, đặc biệt đối với hợp đồng trọn gói hoặc đơn giá cố định. Đây là những khó khăn đã được cơ quan quản lý và nhiều địa phương nhận diện trong năm 2026.
Bên cạnh đó, một số nhà thầu cùng lúc tham gia nhiều dự án nên thiếu nhân lực, thiết bị và vốn lưu động. Việc đánh giá năng lực nhà thầu còn dựa nhiều vào hồ sơ, chưa phản ánh đầy đủ khối lượng công việc đang thực hiện tại các dự án khác.
Bốn là, tổ chức thực hiện và phối hợp chưa hiệu quả. Năng lực của ban quản lý dự án không đồng đều; nhiều đơn vị còn thiếu cán bộ chuyên môn về pháp lý, hợp đồng, định giá và quản lý tiến độ. Phối hợp giữa các cơ quan về đất đai, xây dựng, môi trường, tài chính và chính quyền cơ sở có lúc còn tuần tự, chưa xử lý song song.
Công tác nghiệm thu và hoàn thiện hồ sơ thanh toán chưa bám sát khối lượng. Có tình trạng công trình đã thi công nhưng hồ sơ chậm hoàn thiện, khiến vốn không được thanh toán kịp thời. Hệ thống theo dõi còn thiên về tỷ lệ giải ngân tổng hợp, chưa phản ánh đầy đủ đường găng, sản lượng thực tế và nguy cơ chậm của từng gói thầu.
Năm là, trách nhiệm và kỷ luật thực thi chưa đủ mạnh. Một bộ phận cán bộ còn tâm lý sợ sai, né tránh, chờ hướng dẫn; việc phân cấp chưa luôn đi kèm năng lực và trách nhiệm giải trình. Trách nhiệm cá nhân chưa được lượng hóa theo kết quả dự án. Điều chuyển vốn, thay thế nhà thầu hoặc kiện toàn ban quản lý yếu kém có lúc thực hiện chậm, làm mất thời gian xử lý trong năm.
Nhìn chung, ba nguyên nhân cốt lõi là: chuẩn bị dự án chưa tốt; giải phóng mặt bằng kéo dài; năng lực, trách nhiệm tổ chức thực hiện chưa đáp ứng yêu cầu. Các vướng mắc pháp lý, vật liệu hay thời tiết có thể làm chậm tiến độ, nhưng mức độ ảnh hưởng phụ thuộc rất lớn vào chất lượng chuẩn bị và khả năng xử lý của người đứng đầu.
SÁU GIẢI PHÁP ĐỘT PHÁ TRONG 6 THÁNG CUỐI NĂM 2026
Một là, điều hành theo từng dự án và đường găng. Cần xây dựng danh mục các dự án chiếm khoảng 70-80% số vốn còn phải giải ngân để giám sát đặc biệt. Với từng dự án, phải xác định rõ đường găng, điểm nghẽn, cơ quan có thẩm quyền xử lý, người chịu trách nhiệm và thời hạn hoàn thành.
Thiết lập bảng điều hành số cập nhật hằng tuần, tích hợp tối thiểu bốn nhóm thông tin: khối lượng thi công; giá trị nghiệm thu; số đã thanh toán; và vướng mắc cần xử lý. Tổ công tác của Chính phủ và địa phương phải chuyển từ kiểm tra chung sang giải quyết vụ việc cụ thể tại hiện trường.
Hai là, điều chuyển vốn sớm và dựa trên khả năng hấp thụ. Thực hiện ngay các đợt điều chuyển vốn, không chờ đến quý IV. Dự án không có mặt bằng, chưa hoàn thành thủ tục hoặc không đạt tiến độ do nguyên nhân chủ quan phải bị cắt giảm vốn; vốn được chuyển sang dự án có khối lượng, khả năng hoàn thành và tỷ lệ giá trị gia tăng trong nước cao.
Mỗi bộ, địa phương cần có danh mục dự án dự phòng đã hoàn tất thủ tục, sẵn sàng tiếp nhận vốn. Không tiếp tục ưu tiên vốn mới cho dự án nhiều năm liên tiếp giải ngân thấp do năng lực tổ chức thực hiện. Việc chấm điểm giải ngân theo Quyết định số 1129/QĐ-TTg ngày 24/6/2026 cần được liên thông với phân bổ vốn năm sau, đánh giá người đứng đầu và lựa chọn chủ đầu tư.
Ba là, tổ chức chiến dịch xử lý mặt bằng và vật liệu. Đối với dự án trọng điểm, cần thành lập tổ công tác liên ngành tại địa bàn, có thẩm quyền xử lý trực tiếp các vấn đề về nguồn gốc đất, giá bồi thường, tái định cư, mỏ vật liệu và bãi đổ thải. Thực hiện bàn giao mặt bằng theo đoạn đủ dài để tổ chức thi công liên tục, thay cho bàn giao manh mún.
Đối với dự án lớn và kéo dài nhiều năm, nên tách giải phóng mặt bằng thành dự án độc lập khi đủ điều kiện pháp lý. Khu tái định cư phải được chuẩn bị trước hoặc đồng thời với thu hồi đất. Tiến độ giải phóng mặt bằng cần được coi là chỉ tiêu điều hành của chính quyền cấp cơ sở, không chỉ là trách nhiệm của chủ đầu tư.
Bốn là, rút ngắn nghiệm thu và thanh toán. Tổ chức nghiệm thu theo giai đoạn, hạng mục hoặc khối lượng hoàn thành; không dồn hồ sơ vào cuối quý, cuối năm. Số hóa toàn bộ luồng hồ sơ giữa nhà thầu, chủ đầu tư, ban quản lý dự án và Kho bạc Nhà nước; quy định rõ thời hạn xử lý tối đa đối với từng khâu.
Đồng thời, cần phân biệt giải ngân thực chất với tạm ứng. Chỉ tiêu điều hành phải theo dõi đồng thời giá trị thanh toán và khối lượng được nghiệm thu. Thu hồi kịp thời tạm ứng quá hạn hoặc không có khả năng chuyển thành khối lượng, tránh tình trạng tăng tỷ lệ giải ngân nhưng không tạo ra sản lượng và GDP tương ứng.
Năm là, cá thể hóa trách nhiệm và xử lý đơn vị yếu kém, chủ đầu tư, ban quản lý và nhà thầu. Kết quả phải được công khai, so sánh với tỷ lệ bình quân và mức cam kết. Chậm do nguyên nhân chủ quan phải gắn với hạ mức đánh giá, điều chuyển nhiệm vụ hoặc thay thế cán bộ.
Đối với nhà thầu, cần cập nhật năng lực thực tế, khối lượng đang thực hiện tại các dự án khác và khả năng huy động thiết bị, nhân lực. Kiên quyết điều chuyển khối lượng, bổ sung nhà thầu phụ hoặc chấm dứt hợp đồng theo quy định đối với nhà thầu vi phạm tiến độ kéo dài.
Sáu là, tăng tác động của đầu tư công đối với GDP. Ưu tiên vốn cho dự án có thể hoàn thành, đưa vào sử dụng ngay trong năm hoặc đầu năm 2027; dự án liên vùng, logistics, năng lượng, hạ tầng số, chống ngập và thích ứng biến đổi khí hậu; các công trình có khả năng mở rộng không gian phát triển và thu hút đầu tư tư nhân.
Khuyến khích sử dụng vật liệu, thiết bị và dịch vụ trong nước khi đáp ứng yêu cầu về chất lượng, giá cả và quy định đấu thầu. Việc này vừa giảm rò rỉ nhập khẩu, vừa nâng hệ số lan tỏa đối với sản xuất trong nước. Đồng thời, cần công bố sớm quy hoạch, quỹ đất và danh mục dự án kết nối để khu vực tư nhân triển khai các dự án sản xuất, dịch vụ và đô thị dọc theo hạ tầng công.
TỔ CHỨC THỰC HIỆN
Trong tháng 7-8/2026, cần hoàn thành rà soát toàn bộ dự án, điều chuyển vốn lần thứ nhất, xác định đường găng và xử lý các thủ tục thuộc thẩm quyền. Đây là giai đoạn quyết định khả năng tạo khối lượng thi công trong quý 3.
Trong tháng 9-10/2026, tập trung cao độ cho thi công; điều chuyển vốn lần thứ hai; xử lý nhà thầu, ban quản lý dự án không đạt tiến độ; đồng thời chuẩn bị hồ sơ nghiệm thu ngay trong quá trình thực hiện.
Trong tháng 11-12/2026, ưu tiên hoàn thành khối lượng, nghiệm thu và thanh toán; không sử dụng biện pháp tạm ứng đơn thuần để nâng tỷ lệ giải ngân. Song song với đó, cần đánh giá chất lượng công trình, hiệu quả đầu tư và chuẩn bị danh mục chuyển tiếp cho năm 2027.
Bộ Tài chính cần chủ trì theo dõi kế hoạch vốn, giải ngân, điều chuyển và thanh toán; các bộ quản lý ngành xử lý tiêu chuẩn, định mức, giá và nguồn vật liệu; địa phương chịu trách nhiệm về mặt bằng, tái định cư và thủ tục thuộc thẩm quyền; chủ đầu tư và ban quản lý dự án chịu trách nhiệm trực tiếp về tiến độ, chất lượng và hồ sơ thanh toán.
Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 31-2026 phát hành ngày 03/08/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:
Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-312026.html
Sau chặng đường kinh tế nửa đầu năm 2026, câu hỏi đặt ra lúc này là liệu Việt Nam có thể đạt mục tiêu tăng GDP hai con số, đồng thời vẫn kiểm soát được lạm phát và giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô hay không? Đây không phải là sự lựa chọn giữa tăng trưởng hay ổn định. Vấn đề cốt lõi là chúng ta lựa chọn phương thức điều hành như thế nào để đạt được cả hai mục tiêu với chi phí thấp nhất.
Để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng bứt phá trong bối cảnh kinh tế toàn cầu đầy biến động, việc tháo gỡ điểm nghẽn cho các ngành kinh tế mũi nhọn là yêu cầu cấp bách. Từ áp lực thuế quan đối với ngành dệt may, gỗ, bài toán chi phí của ngành điện tử, phân bón đến những rào cản pháp lý trong bán lẻ và thương mại điện tử, đại diện các hiệp hội ngành hàng đồng loạt đưa ra nhiều đề xuất nhằm khơi thông nguồn lực và kiến tạo động lực phát triển mới.
Một trong những vấn đề trọng tâm hiện nay của Việt Nam là làm thế nào để vừa đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, vừa duy trì ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và bảo đảm phát triển bền vững trong dài hạn. Mục tiêu tăng trưởng bình quân khoảng 10% trong giai đoạn tới cần được hiểu là mức bình quân của cả giai đoạn, thay vì yêu cầu mọi năm đều phải đạt trên 10%. Cách tiếp cận này giúp tránh tư duy tăng trưởng bằng mọi giá, đồng thời tạo dư địa để điều hành kinh tế linh hoạt theo từng thời kỳ.
Việt Nam cũng đã từng bước hoàn thiện hành lang pháp lý cho hình thành, phát triển thị trường carbon, vận hành sàn giao dịch carbon trong nước, đồng thời chủ động kết nối với thị trường quốc tế. Các chuyên gia là đại diện cơ quan quản lý, các chuyên gia trong nước và quốc tế, doanh nghiệp về tiềm năng, sẽ cùng phân tích các cơ hội cũng như những vấn đề đặt ra và kiến nghị giải pháp để khai thác hiệu quả sân chơi mới này.
Thay vì sao chép các mô hình trung tâm tài chính truyền thống, Việt Nam hướng tới xây dựng một trung tâm tài chính quốc tế mang bản sắc của thế kỷ 21, lấy tài chính số và tài chính xanh làm nền tảng, tạo lợi thế cạnh tranh trong bối cảnh dòng vốn toàn cầu đang dịch chuyển…
Sáu tháng đầu năm 2026 khép lại với nhiều tín hiệu tích cực của nền kinh tế. Đằng sau những con số tăng trưởng là yêu cầu nhìn lại hiệu quả thực thi các quyết sách và nhận diện những động lực cần tiếp tục được khơi thông trong chặng đường còn lại của năm, hướng tới mục tiêu tăng trưởng hai con số.
Tại Họp báo Chính phủ thường kỳ do Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Đặng Xuân Phong chủ trì ngày 3/8, thông tin về tình hình phát triển kinh tế-xã hội tháng 7 và 7 tháng đầu năm cho thấy các ngành sản xuất duy trì xu hướng tích cực.