Là lãnh đạo của đơn vị đã tham gia xây dựng bộ phân loại xanh cho một số quốc gia khu vực ASEAN và châu Âu, ông đánh giá thế nào về bộ tiêu chí này khi ra đời ở Việt Nam?
Từ nhiều năm qua, thị trường đã “chờ đợi” bộ tiêu chí này ra đời. Thực tế, những tổ chức muốn phát hành trái phiếu xanh đều phải tham chiếu sang các chuẩn mực của châu Âu hoặc các nước khu vực.
Là đơn vị đang tư vấn cho các doanh nghiệp và ngân hàng ứng dụng, chúng tôi nhận thấy mặc dù bộ tiêu chí phân loại xanh của Việt Nam ra đời sau một số nước trong khu vực nhưng PwC đánh giá cao tính thực tiễn, ứng dụng. Bộ tiêu chí này có những yếu tố cốt lõi của bộ tiêu chí phân loại xanh ở châu Âu cũng như ở khu vực nhưng có điều chỉnh các ngưỡng để đảm bảo phù hợp và áp dụng được cho các doanh nghiệp ở Việt Nam.
Ví dụ như bộ tiêu chí phân loại xanh ở Malaysia khi ban hành chỉ mang tính nguyên tắc, định tính, nhưng bộ tiêu chí phân loại xanh của Việt Nam đã mang tính định lượng rõ ràng hơn. Vì vậy, bộ tiêu chí khi ra đời được chào đón và sẽ hỗ trợ hiệu quả thị trường Việt Nam. Với sự ra đời của bộ tiêu chí này, thị trường có định nghĩa, chuẩn mực chung thế nào là xanh và để đạt được mục tiêu xanh cần phải làm gì.
Bộ tiêu chí này sẽ góp phần như thế nào trong thúc đẩy, khơi thông nguồn tài chính xanh và đầu tư hỗ trợ các dự án hướng tới mục tiêu phát triển bền vững, thưa ông?
Qua các kỳ hội nghị COP, chính phủ các quốc gia đã đưa ra các cam kết cho tài chính xanh, tài chính bền vững. Ở thị trường Việt Nam cũng đã được cam kết nhiều hỗ trợ tài chính. Tuy nhiên, khi làm việc với các quỹ, ngân hàng nước ngoài và kể cả các ngân hàng trong nước, PwC nhận thấy các ngân hàng sẵn sàng giải ngân, tài trợ nhưng điều quan ngại lớn nhất của họ là việc không có các tiêu chí xanh rõ ràng từ phía doanh nghiệp để có thể triển khai.
Vì vậy, với sự ra đời của bộ tiêu chí này, có định nghĩa và chuẩn mực thế nào là xanh, bền vững, từ nay thị trường tài chính xanh, bền vững ở Việt Nam sẽ phát triển bùng nổ hơn. Không những thế, ngay cả với các dự án chuyển đổi sang xanh sẽ được đánh giá theo tiêu chí. Đó sẽ là căn cứ để các ngân hàng, tổ chức tài chính giải ngân, khơi thông nguồn vốn hỗ trợ cho các dự án xanh.
Mặc dù khi chưa có tiêu chí, các ngân hàng vẫn triển khai giải ngân nhưng họ sử dụng các bộ tiêu chí phân loại phù hợp, thậm chí có những ngân hàng tham khảo bộ tiêu chí phân loại của châu Âu hoặc các nước ASEAN và điều chỉnh theo quan điểm của đơn vị mình. Với bộ tiêu chí phân loại xanh là một chính sách hỗ trợ rất lớn với thị trường khơi thông nguồn vốn xanh.
Như vậy, chúng ta đã có các cơ chế chính sách giúp khơi thông nguồn vốn cho các dự án phát triển xanh. Theo ông, đâu là yếu tố quan trọng, cốt lõi để khai thác hiệu quả chính sách này, thúc đẩy phát triển các dự án xanh ở Việt Nam?
Tôi cho rằng vấn đề quan trọng nhất hiện nay nằm ở phía các tổ chức tài chính. Với bộ tiêu chí phân loại xanh này, các tổ chức tài chính sẽ có cơ sở vững chắc để đưa ra các tiêu chí, tiêu chuẩn phân loại để tiến hành giải ngân.
Thực tế hiện nay, các tổ chức như WB, IFC, ADB… đang có nhiều chương trình hỗ trợ Việt Nam thông qua các tổ chức tài chính. Từ bộ tiêu chí phân loại xanh, các tổ chức tài chính, ngân hàng phải phân loại ưu đãi, tài trợ cho dự án nào.
Các doanh nghiệp cũng cần phải nắm được thông tin về các bộ tiêu chí đó để tiến hành thu thập, chuẩn bị cung cấp thông tin, từ đó có thể tham gia vào các chương trình hỗ trợ này.
Thưa ông, bắt đầu từ 1/1/2026, Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM) của EU chính thức vận hành đầy đủ, buộc các nhà nhập khẩu phải trả chi phí cho lượng phát thải carbon. Cơ chế này tác động trực tiếp tới các ngành như sắt thép, xi măng, nhôm, phân bón… Theo ông, cơ chế này sẽ tác động thế nào tới các doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu sang thị trường châu Âu?
Đây không phải là các yêu cầu mới của EU với các doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp đang trực tiếp tham gia xuất khẩu sang các thị trường này.
Theo tôi, việc các chính sách này được áp dụng đầy đủ, chính thức sẽ không gây khó khăn mà ngược lại còn tạo lợi thế cho các doanh nghiệp. Để đáp ứng các yêu cầu tiêu chuẩn xanh, các doanh nghiệp đã phải chuẩn bị sẵn sàng từ trước và đây sẽ là lợi thế cho các doanh nghiệp khi EU áp dụng đầy đủ và chính thức.
Trong bối cảnh xu hướng, yêu cầu về môi trường, tiêu chuẩn xanh ngày càng khắt khe, ông nhận thấy mức độ chuyển đổi xanh, bền vững trong các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay ra sao?
Hiện nay, trên thị trường toàn cầu đang có bước chuyển đổi mạnh mẽ, đặc biệt là thị trường châu Âu. Còn ở Việt Nam, những năm qua, các doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp tham gia xuất khẩu đã có những hành động cụ thể để đáp ứng các yêu cầu xanh của thị trường.
Đến nay, cùng với các chính sách hỗ trợ của Nhà nước được ban hành cũng như định hướng, yêu cầu mới của thị trường, tôi cho rằng xu thế chuyển đổi xanh ở Việt Nam sẽ phát triển mạnh mẽ hơn nữa.
Nếu như trước kia, các doanh nghiệp coi chuyển đổi xanh là yếu tố tự nguyện thì trong khoảng vài năm trở lại đây, ngày càng có nhiều doanh nghiệp xác định xanh là yêu cầu bắt buộc để phát triển bền vững. Thậm chí có những doanh nghiệp đã đưa chuyển đổi xanh thành yếu tố sống còn với hoạt động sản xuất kinh doanh, để đảm bảo duy trì tính cạnh tranh trên thị trường.
PwC nhận thấy trước xu thế, yêu cầu đòi hỏi của thị trường toàn cầu cũng như khu vực, ngày càng có nhiều doanh nghiệp đưa ra các mục tiêu phát triển bền vững một cách chi tiết hơn, gắn sát với thực tế hoạt động sản xuất, kinh doanh, định hướng phát triển của mình hơn.
Dù khung pháp lý đã được hoàn thiện đáng kể, việc áp dụng các tiêu chí tăng trưởng xanh cho mọi doanh nghiệp có thể gây khó khăn, đặc biệt với các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME). Kinh nghiệm từ các thị trường tiên tiến trong triển khai phát triển bền vững và ESG (môi trường, xã hội, quản trị) cho thấy cần phân loại doanh nghiệp theo quy mô, với tiêu chí đơn giản hóa hơn dành cho SME. Sau khi ban hành chính sách quốc gia, cơ quan quản lý cần kèm theo hướng dẫn chi tiết cho từng ngành nghề, lĩnh vực để tạo điều kiện thuận lợi.
Từ góc nhìn của doanh nghiệp, qua các hoạt động tiếp xúc và tư vấn, PwC nhận thấy rằng vẫn tồn tại một số vướng mắc trong thực thi. Nhiều doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa, vẫn coi phát triển bền vững là hoạt động tự nguyện hơn là yêu cầu bắt buộc. Họ lo ngại rằng việc triển khai sẽ phát sinh chi phí lớn, trở thành rào cản chính.
Ngay cả khi vượt qua nhận thức này, doanh nghiệp thường gặp vấn đề về nguồn lực, bao gồm chi phí đầu tư ban đầu và thiếu nhân lực chuyên môn. Bên cạnh đó, không chỉ SME mà các tổ chức lớn cũng đang vật lộn với dữ liệu và thông tin. Hành trình thực hiện ESG đòi hỏi thu thập khối lượng dữ liệu khổng lồ, nhưng nhiều doanh nghiệp không biết bắt đầu từ đâu, dẫn đến khó khăn trong xây dựng báo cáo, hoạch định chiến lược và triển khai thực tế.
Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 51-52-2025 phát hành ngày 22-29/12/2025. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:
Link: https://vneconomy.vn/don-doc-tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-5152-2025.htm
Việt Nam cũng đã từng bước hoàn thiện hành lang pháp lý cho hình thành, phát triển thị trường carbon, vận hành sàn giao dịch carbon trong nước, đồng thời chủ động kết nối với thị trường quốc tế. Các chuyên gia là đại diện cơ quan quản lý, các chuyên gia trong nước và quốc tế, doanh nghiệp về tiềm năng, sẽ cùng phân tích các cơ hội cũng như những vấn đề đặt ra và kiến nghị giải pháp để khai thác hiệu quả sân chơi mới này.
Thay vì sao chép các mô hình trung tâm tài chính truyền thống, Việt Nam hướng tới xây dựng một trung tâm tài chính quốc tế mang bản sắc của thế kỷ 21, lấy tài chính số và tài chính xanh làm nền tảng, tạo lợi thế cạnh tranh trong bối cảnh dòng vốn toàn cầu đang dịch chuyển…
Đô thị bền vững không bắt đầu từ những tuyên ngôn lớn, mà từ cách quy hoạch “lắng nghe” khí hậu, địa hình, văn hóa và nhu cầu của con người bản địa. Trong cuộc trao đổi với phóng viên, ông Carlo Negri, Giám đốc quốc tế Sweco, chia sẻ cách hơn 130 năm kinh nghiệm quốc tế được chuyển hóa thành một quy hoạch mang bản sắc riêng cho Coastal Quảng Ngãi - A Community by HAUS.
Công nghệ viễn thám đóng vai trò quan trọng trong việc thu thập thông tin và dữ liệu về bề mặt Trái Đất và khí quyển từ xa, tác động đến nhiều khía cạnh của cuộc sống. Đặc biệt, các công nghệ viễn thám bao gồm ảnh vệ tinh, cảm biến gắn trên thiết bị bay không người lái và các nền tảng trên mặt đất đang chuyển đổi nền nông nghiệp truyền thống thành một ngành dựa trên dữ liệu, có khả năng đạt được năng suất cao hơn với mức tiêu thụ tài nguyên thấp hơn...
Theo quy hoạch, Hà Nội và TP.Hồ Chí Minh sẽ cần huy động khoảng 214-241 tỷ USD để đầu tư hơn 2.000 km đường sắt đô thị (metro) trong những thập kỷ tới. Tuy nhiên, thách thức không chỉ ở việc thu xếp đủ nguồn vốn, mà còn ở thiết kế một cơ chế tài chính đủ bền vững để tiếp tục thu hút đầu tư, bảo đảm vận hành hiệu quả và duy trì an toàn tài khóa trong dài hạn...
Việt Nam cũng đã từng bước hoàn thiện hành lang pháp lý cho hình thành, phát triển thị trường carbon, vận hành sàn giao dịch carbon trong nước, đồng thời chủ động kết nối với thị trường quốc tế. Các chuyên gia là đại diện cơ quan quản lý, các chuyên gia trong nước và quốc tế, doanh nghiệp về tiềm năng, sẽ cùng phân tích các cơ hội cũng như những vấn đề đặt ra và kiến nghị giải pháp để khai thác hiệu quả sân chơi mới này.
Những nếp nhà sàn nép mình bên sườn núi, thửa ruộng bậc thang uốn lượn hay bữa cơm đậm hương vị bản địa đang trở thành "điểm chạm" níu chân du khách. Từ những giá trị vốn có, nhiều vùng cao đã biến du lịch cộng đồng thành động lực phát triển kinh tế và nâng cao đời sống người dân.