Theo số liệu của Tổng cục Thủy lợi (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn), trên cả nước hiện có 291.013 km kênh mương các loại. Hệ thống kênh mương chủ yếu là kênh đất. Số lượng được kiên cố hóa bằng kết cấu bê tông cốt thép mới đạt khoảng 82.744 km, chiếm 28,4% trong tổng chiều dài kênh mương.
Đánh giá về con số khiêm tốn trên, ông Nguyễn Văn Tỉnh, Tổng cục trưởng Tổng cục Thủy lợi, cho biết do điều kiện hạn chế về nguồn vốn xây dựng và giải pháp kỹ thuật, công nghệ nên hiện nay, nhiều hệ thống kênh mương công trình thuỷ lợi vẫn trong tình trạng hư hỏng. Việc kiên cố hoá kênh mương cũng còn nhiều bất cập, công trình sau khi cứng hoá đưa vào sử dụng nhanh bị xuống cấp. Do đó, cần có giải pháp về kỹ thuật phù hợp với từng công trình, tiết kiệm nguồn vốn đầu tư và bền vững.
Theo ông Nguyễn Hoài Nam, Phó Cục trưởng Cục Quản lý xây dựng công trình (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn), hệ thống kênh mương (gồm cả kênh mương đất và kênh mương bê tông) chủ yếu chỉ được xây dựng ở vùng đồng bằng, phục vụ tưới tiêu cho trồng lúa và cây rau màu, cây mía, một số ít kênh mương phục vụ tưới cho cây ăn quả. Trong khi ở vùng miền núi, đất dốc, hệ thống kênh mương hở không thể thực hiện được.
Hiện nay, nhiều khu vực miền núi, đất dốc đã trở thành vùng chuyên canh ngô và nhiều loại cây ăn quả, cây công nghiệp. Vì vậy, cần phải có giải pháp phù hợp để phát triển thủy lợi cho vùng miền núi, những khu vực đất dốc.
Ông Nam tính toán, xây dựng mạng lưới đường ống dẫn nước sẽ đem lại hiệu quả về lâu dài. Dù chi phí xây dựng đường ống dẫn cao hơn từ 30-40% so với kênh mương hở, nhưng chi phí giải phóng mặt bằng giảm 50%, chi phí quản lý vận hành giảm 70%, tổn thất cột nước giảm 30% và nhiều loại chi phí khác cũng có thể cắt giảm.
Ông Đỗ Văn Thành, Viện trưởng Viện Quy hoạch thủy lợi (Tổng cục Thủy lợi) thông tin, qua nghiên cứu thực tế, hệ thống ống dẫn nước đặc biệt phát huy ưu thế khi xây dựng trên đất dốc, khu vực miền núi, hoặc những vùng chuyển đổi cơ cấu cây trồng từ trồng lúa sang cây công nghiệp. Đặc biệt, với vùng nuôi trồng thủy sản tập trung, sử dụng đường ống sẽ tách được đường dẫn nước chung, đảm bảo vệ sinh và tránh được bệnh dịch.
“Thay thế hệ thống kênh mương bằng đường ống trong các công trình thủy lợi còn đem lại nhiều lợi ích như đảm bảo sự ổn định và chất lượng nguồn nước ở địa hình phức tạp; thích hợp với xu hướng hiện đại hóa, thông minh, tiết kiệm nước; giảm thiểu chi phí sửa chữa khi thiên tai xảy ra”, ông Thành nhấn mạnh và cho biết thêm, trong tổng số 291.013 km kênh mương, đường ống mới chỉ chiếm khoảng 1.200 - 2.910 km (tương đương từ 0,5-1%). Hiện nay, chỉ có tỉnh Ninh Thuận là có hệ thống đường ống mới được xây dựng bài bản.
Trước thực tế này, ông Tỉnh cho rằng cần phải điều tra cơ bản để có đánh giá đầy đủ và chi tiết về hiện trạng, nhu cầu ứng dụng đường ống. Ngoài ra, cần có một bộ hướng dẫn kỹ thuật vận hành, tiêu chuẩn kỹ thuật và định mức kinh tế kỹ thuật cho công tác bảo trì đường ống.
Thứ trưởng Nguyễn Hoàng Hiệp lưu ý thêm: "Chúng ta cần làm rõ ba vấn đề chính: điều kiện nào bắt buộc phải dùng đường ống dẫn nước. Nếu nói là xây trên đất dốc, thì phải nói rõ dốc bao nhiêu phần trăm?. Nếu nói xây trên địa hình bị chia cắt, thì chia cắt như thế nào?. Nếu nền đất yếu, thì cũng phải định tính cụ thể. Quan trọng hơn là tầm nhìn, trong thiết kế, thi công, quản lý đường ống dẫn nước còn khó khăn, vướng mắc gì? Cần phải đảm bảo lợi ích hài hòa giữa giá thành và hiệu quả kinh tế khi đưa ống dẫn nước phải dùng trên diện rộng".
Ngoài ra, cần tăng thời gian bảo hành cho các công trình thủy lợi, có thể lên từ 3-5 năm, giúp các chủ đầu tư yên tâm đấu thầu. “Các đơn vị thi công có thể xem xét việc sử dụng đan xen nhiều loại ống dẫn trên một công trình thủy lợi. Chúng ta phải xác định, đây là tài sản đầu tư cho tương lai lâu dài, không chỉ riêng ngành thủy lợi", Thứ trưởng Nguyễn Hoàng Hiệp nhấn mạnh.




Sau chặng đường kinh tế nửa đầu năm, câu hỏi đặt ra lúc này là liệu Việt Nam có thể đạt mục tiêu tăng GDP hai con số, đồng thời vẫn kiểm soát được lạm phát và giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô hay không. Đây không phải là sự lựa chọn giữa tăng trưởng hay ổn định. Vấn đề cốt lõi là lựa chọn phương thức điều hành như thế nào để đạt được cả hai mục tiêu với chi phí thấp nhất.
Chuỗi sản xuất toàn cầu đang tái cấu trúc sâu sắc dưới tác động của chính sách thuế quan, AI và yêu cầu an toàn chuỗi cung ứng. Trước sự dịch chuyển cạnh tranh từ chi phí giá rẻ sang năng lực công nghệ của các nền kinh tế lớn, Việt Nam cần nâng chất dòng vốn FDI, hoàn thiện hệ sinh thái công nghiệp và phát triển lực lượng doanh nghiệp nội địa làm chủ các công đoạn giá trị cao...
Trước áp lực giá thế giới tăng vọt, trong kỳ điều hành ngày 30/7, giá xăng dầu trong nước biến động mạnh. Để kìm hãm đà tăng, liên Bộ Công Thương - Tài chính quyết định tiếp tục chi sử dụng Quỹ bình ổn từ 500 - 1.000 đồng/lít…
Nguồn nguyên liệu rừng trồng đang phân bổ chưa hợp lý, khi phần lớn gỗ được sử dụng cho sản xuất dăm gỗ và viên nén thay vì phục vụ chế biến sâu có giá trị gia tăng cao. Các doanh nghiệp cho rằng nếu không sớm tổ chức lại thị trường nguyên liệu, ngành gỗ Việt Nam sẽ khó nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển bền vững...
Hệ thống pháp luật về đê điều đang tiếp tục được hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu quản lý trong mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Các quy định mới tập trung phân cấp, đơn giản hóa thủ tục, tăng cường bảo vệ hành lang đê và nâng cao hiệu quả phòng, chống lũ, bảo đảm an toàn hệ thống đê điều...
Việt Nam cũng đã từng bước hoàn thiện hành lang pháp lý cho hình thành, phát triển thị trường carbon, vận hành sàn giao dịch carbon trong nước, đồng thời chủ động kết nối với thị trường quốc tế. Các chuyên gia là đại diện cơ quan quản lý, các chuyên gia trong nước và quốc tế, doanh nghiệp về tiềm năng, sẽ cùng phân tích các cơ hội cũng như những vấn đề đặt ra và kiến nghị giải pháp để khai thác hiệu quả sân chơi mới này.
Sau chặng đường kinh tế nửa đầu năm, câu hỏi đặt ra lúc này là liệu Việt Nam có thể đạt mục tiêu tăng GDP hai con số, đồng thời vẫn kiểm soát được lạm phát và giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô hay không. Đây không phải là sự lựa chọn giữa tăng trưởng hay ổn định. Vấn đề cốt lõi là lựa chọn phương thức điều hành như thế nào để đạt được cả hai mục tiêu với chi phí thấp nhất.