Họ là một phần - phần lớn nhất - trong số 512 nhà báo liệt sĩ của cả nước đã được xác định danh tính và được vinh danh tại Bảo tàng Báo chí cách mạng Việt Nam, được thờ tại chùa Âu Lạc (chùa Da) ở thành phố Vinh, Nghệ An. Ngoài ra, còn rất nhiều nhà báo liệt sĩ khác trong số hơn 300.000 liệt sĩ chưa xác định được danh tính của cả nước. Đó là sự hy sinh, tổn thất rất lớn, nhưng cũng là niềm tự hào của Báo chí Cách mạng Việt Nam.
Khi đất nước có chiến tranh, các nhà báo của chúng ta đã ra trận. Họ hăng hái ra trận bởi cả hai lẽ: tinh thần trách nhiệm trước đất nước và nhân dân, theo lời kêu gọi của Đảng; sự thôi thúc của nghề báo, một nghề luôn đòi hỏi các nhà báo phải có mặt ở những điểm nóng, dẫu là những điểm nóng chết người.
Tuy nhiên, khác với báo chí cùng thời ở nhiều nơi trên thế giới, động cơ dấn thân của các nhà báo chúng ta trong các cuộc chiến tranh không bị chi phối bởi tiền tài và danh vọng. Mục tiêu duy nhất của họ là phục vụ cách mạng, dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Với kinh nghiệm tổ chức và chỉ đạo hoạt động của báo chí cách mạng từ khi Đảng chưa ra đời, khởi đầu bằng tờ Thanh Niên do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và xuất bản năm 1925 tại Quảng Châu (Trung Quốc), Đảng ta đã phát huy được sức mạnh tổng hợp của đội ngũ những người làm báo cách mạng, trong vai trò “lính xung kích” trên mặt trận tư tưởng – văn hóa, nhằm giác ngộ, động viên và tổ chức quần chúng tham gia các phong trào cách mạng, do Đảng lãnh đạo.
Nhờ tầm nhìn chiến lược của Đảng trong việc tổ chức và chỉ đạo báo chí phục vụ các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm (1946-1975), đặc biệt là trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, kể cả chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ ở miền Bắc (hai giai đoạn, từ 7/2/1965 - 1/11/1968 và từ 6/4/1972 - 15/1/1973), báo chí của chúng ta đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ thông tin tuyên truyền trong các giai đoạn lịch sử này.
Không phải ngẫu nhiên khi Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam (Mặt trận) ra đời ngày 20/12/1960 thì đã có sẵn một cơ quan báo chí hoạt động tại chỗ, kịp thời phát đi tin tức về sự kiện này, kèm theo Chương trình hành động 10 điểm của Mặt trận.
Trước đó hơn hai tháng, vào ngày 12/10/1960, Thông tấn xã Giải phóng (gọi tắt là Giải phóng Xã) đã được thành lập tại một chiến khu ở miền Đông Nam Bộ, theo chỉ đạo của Đảng, trực tiếp là Trung ương Cục miền Nam. Khi Mặt trận ra đời, Giải phóng Xã, với tư cách cơ quan thông tin chính thức của Mặt trận, đóng trụ sở ngay tại vùng giải phóng, là cơ quan báo chí đầu tiên phát đi tin, ảnh về việc thành lập Mặt trận, một sự kiện mang tính bước ngoặt của cách mạng miền Nam khi đó, được cả thế giới quan tâm, theo dõi.
Việc một cơ quan báo chí được thành lập trước một tổ chức cách mạng để phục vụ kịp thời nhiệm vụ thông tin, tuyên truyền về tổ chức cách mạng ấy, như trường hợp kể trên, thể hiện rất rõ tầm nhìn chiến lược của Đảng ta đối với vai trò quan trọng của báo chí cách mạng trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng miền Nam.
Theo Hiệp định Genève 1954, toàn bộ cán bộ, bộ đội của ta ở miền Nam phải tập kết ra miền Bắc. Tuy nhiên, rất nhiều cán bộ, chiến sĩ đã được Đảng yêu cầu bí mật ở lại để phục vụ nhiệm vụ cách mạng lâu dài về sau, vì Đảng đã thấy trước khả năng tổ chức tổng tuyển cử thống nhất đất nước sau hai năm, tức là vào năm 1956, theo quy định của Hiệp định, khó thành hiện thực, do âm mưu của đế quốc Mỹ muốn chia cắt lâu dài Việt Nam, biến miền Nam Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới của họ, để ngăn “làn sóng cộng sản” tràn xuống Đông Nam Á, theo tính toán của đế quốc Mỹ. Trong số những cán bộ ở lại, có không ít phóng viên, biên tập viên và kỹ thuật viên báo chí, mà ông Đỗ Văn Ba (Ba Đỗ), tức Nguyễn Văn Hạng, là một người trong số đó.
Ông Ba Đỗ (1924 – 2009), nguyên là nhân viên kỹ thuật, chuyên làm nhiệm vụ thu phát tin của Việt Nam Thông tấn xã ở Nam Bộ trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp (1946 -1954). Ông và một số cán bộ báo chí “nằm vùng” khác chính là nòng cốt để thành lập Giải phóng Xã vào ngày 12/10/1960. (Khi Giải phóng Xã được thành lập, ông Ba Đỗ được giao phụ trách từ năm 1960 đến năm 1965; rồi trở thành Phó Giám đốc từ 1965-1975; sau đó được bổ nhiệm làm Phó Tổng biên tập, rồi Phó Tổng Giám đốc kiêm Phó Tổng biên tập Thông tấn xã Việt Nam, khi Việt Nam Thông tấn xã hợp nhất với Thông tấn xã Giải phóng thành Thông tấn xã Việt Nam vào năm 1976).
Sau Thông tấn xã Giải phóng, vẫn theo sự chỉ đạo của Trung ương Cục miền Nam, một số cơ quan báo chí khác như Đài phát thanh Giải phóng, báo Giải phóng, báo Quân Giải phóng, báo Văn nghệ Giải phóng, Xưởng phim Giải phóng... cũng đã ra đời. Thế là Thông tấn xã Giải phóng và các cơ quan báo chí ra đời sau đó, cùng các chi nhánh báo chí cách mạng ở các Khu (tên gọi tắt của các quân khu ở miền Nam thời chiến tranh chống Mỹ) và các địa phương trên toàn miền Nam, được tăng cường thêm lực lượng báo chí từ miền Bắc vào, đã trở thành một “binh chủng” báo chí khá hùng hậu của cách mạng miền Nam, tác nghiệp ngay tại chiến trường, kịp thời thông tin, tuyên truyền về thắng lợi của quân và dân ta trong từng trận đánh, từng chiến dịch, mà đỉnh cao là đại thắng mùa Xuân 1975, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta, thu non sông về một mối.
Suốt hơn 40 năm đất nước có chiến tranh (30 năm kháng chiến chống ngoại xâm và làm nghĩa vụ quốc tế tại Lào và Campuchia từ 1946 - 1975 và 13 năm chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam, biên giới phía Bắc và làm nghĩa vụ quốc tế tại Campuchia từ 1977-1989), hàng nghìn lượt nhà báo đã được cử đi tác nghiệp tại các mặt trận, sát cánh cùng bộ đội trong nhiều trận đánh, kịp thời phản ánh chân thực và sinh động cuộc chiến đấu ác liệt, đầy hy sinh, gian khổ của quân và dân ta.
Họ là các phóng viên tin, ảnh, phóng viên quay phim và kỹ thuật viên của nhiều cơ quan báo chí và các xưởng phim; trước hết phải kể đến: Thông tấn xã Việt Nam (gồm cả Thông tấn xã Giải phóng), báo Quân đội Nhân dân (gồm cả báo Quân Giải phóng), báo Nhân Dân (gồm cả báo Giải phóng), Đài Tiếng nói Việt Nam (gồm cả Đài phát thanh Giải phóng), Đài Truyền hình Việt Nam (từ năm 1970), báo Văn nghệ (gồm cả Văn nghệ Giải phóng), báo Công an Nhân dân, Điện ảnh Quân đội Nhân dân, Điện ảnh Công an Nhân dân và Xưởng phim Thời sự Tài liệu Trung ương (nay là Hãng phim Tài liệu và Khoa học Trung ương)…
Ngoài phương tiện hành nghề (giấy, bút, máy ảnh, máy quay phim, máy thu phát tin, ảnh), họ còn được trang bị vũ khí nóng, vì trong nhiều trường hợp, họ phải trực tiếp cầm súng chiến đấu như một người chiến sĩ thực thụ trên chiến trường.
Các tác phẩm báo chí (tin, bài, phim tài liệu điện ảnh, ảnh thời sự…) mà các nhà báo của chúng ta thực hiện ngay tại chiến trường không chỉ đáp ứng kịp thời yêu cầu thông tin, tuyên truyền về các cuộc chiến đấu đầy hy sinh, gian khổ của quân và dân ta ngay lúc bấy giờ, mà còn trở thành tư liệu lịch sử vô giá.
Đối với các phóng viên quay phim và phóng viên ảnh ở chiến trường, mỗi lần họ bấm máy là lịch sử chiến tranh đã được ghi lại.
Nếu đem trưng bày tất cả các số báo in của hai tờ Nhân Dân và Quân đội Nhân dân đã phát hành trong các thời kỳ chiến tranh, thì lịch sử các cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nhiệm vụ quốc tế ở Lào và Campuchia của quân và dân ta sẽ được dựng lại một cách hết sức chân thực và sinh động, bằng các sự kiện có thật được thể hiện qua các tác phẩm báo chí.
Thông tấn xã Việt Nam hiện đang lưu giữ và bảo quản khoảng một triệu kiểu phim, do các phóng viên chụp trong các thời kỳ chiến tranh. Cùng với đó là số lượng phim tài liệu điện ảnh, các bức ảnh lịch sử đang lưu giữ tại các trung tâm lưu trữ của Nhà nước, các cơ sở điện ảnh, các viện bảo tàng và ngay cả tại gia đình các phóng viên chiến trường cũng rất lớn.
Những tư liệu lịch sử vô giá này có được trước hết là nhờ đội ngũ các nhà báo cách mạng đã không quản gian khổ, hy sinh, trực tiếp tác nghiệp tại chiến trường, hoàn thành xuất sắc sứ mệnh “chép sử”.
Bằng lao động sáng tạo quả cảm, đầy hy sinh, gian khổ, thấm đẫm mồ hôi, công sức, thậm chí cả máu xương và nước mắt, qua hơn 40 năm chiến tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế, đội ngũ các nhà báo đã hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao, góp phần vào thắng lợi chung của dân tộc, tô thắm thêm truyền thống lịch sử của Báo chí Cách mạng Việt Nam. Họ xứng đáng được tôn vinh trong dịp kỷ niệm một trăm năm Báo chí Cách mạng Việt Nam (21/6/1925 – 21/6/2025).
VnEconomy 18/06/2025 07:00
Nội dung đầy đủ của bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 24 25-2025 phát hành ngày 16/06/2025. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:
https://postenp.phaha.vn/tap-chi-kinh-te-viet-nam/detail/1453




Luật Công nghiệp công nghệ số đã mở rộng phạm vi nhân lực công nghệ số chất lượng cao, không chỉ bao gồm người Việt Nam (cả trong và ngoài nước) mà còn cả chuyên gia nước ngoài đáp ứng các tiêu chí do Chính phủ Việt Nam quy định. Để thu hút lực lượng này, luật đưa ra hàng loạt chính sách ưu đãi...
Sau nửa thế kỷ phát triển, Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam (VINATOM) không chỉ góp phần đưa công nghệ hạt nhân vào y tế, nông nghiệp, công nghiệp và môi trường mà còn đang chuẩn bị nguồn nhân lực, công nghệ và hạ tầng để đồng hành cùng Chương trình điện hạt nhân quốc gia trong giai đoạn mới.
Chỉ còn chưa đầy 6 tháng trước khi Quy định chống mất rừng của Liên minh châu Âu (EUDR) được thực thi đầy đủ. Thách thức lớn nhất hiện nay không nằm ở tiêu chuẩn kỹ thuật mà ở tư duy, sự minh bạch và khả năng phối hợp giữa các doanh nghiệp. Vì vậy, việc xây dựng dữ liệu vùng nguyên liệu chính xác là điều kiện tiên quyết để bảo vệ uy tín của ngành cà phê Việt Nam trên thị trường quốc tế.
Nhu cầu nhà ở của đại đa số người dân lao động tại đô thị rất lớn nhưng nguồn cung nhà ở giá phù hợp lại vô cùng hạn chế. Trong khi đó, vẫn có nhiều khu đô thị bị bỏ hoang và hàng ngàn dự án vẫn “đắp chiếu” do vướng mắc pháp lý, tương đương với hàng triệu tỷ đồng đang bị “chôn” vào đất; quy hoạch đất đai cũng còn không ít bất cập; doanh nghiệp bất động sản gặp nhiều khó khăn trong quá trình triển khai dự án…
Với tổng vốn đầu tư lũy kế hơn 80 tỷ USD, Nhật Bản không chỉ là đối tác kinh tế hàng đầu mà còn là người bạn đồng hành tin cậy của Việt Nam qua nhiều thập kỷ. Trong bối cảnh Việt Nam đang quyết liệt chuyển dịch sang mô hình tăng trưởng mới dựa trên khoa học - công nghệ và chuyển đổi xanh, dư địa hợp tác giữa hai nước đang ngày càng mở rộng, đặc biệt là sau chuyến thăm Việt Nam vào tháng 5/2026 của Thủ tướng Nhật Bản Takaichi Sanae.
Dưới tác động của biến đối khi hậu, tình trạng thời tiết, thiên tai diễn biến bất thường, cực đoan hơn, đòi hỏi công tác dự báo, cảnh báo sớm, giúp các ngành, địa phương và người dân chủ động ứng phó, giảm thiểu thiệt hại. Đặc biệt với các hiện tượng khí hậu như El Nino, ông Hoàng Đức Cường cho rằng khi nhận diện sớm nguy cơ, dự báo cảnh báo sớm sẽ giúp có thời gian chủ động lên kế hoạch sớm, có các giải pháp ứng phó, góp phần giảm thiểu ảnh hưởng, tác động đến hoạt động sản xuất và đời sống sinh hoạt của người dân.
Theo Ban Quản lý khu kinh tế Hải Phòng, trong việc quy hoạch và định hướng của Thành phố, thay vì chỉ phát triển khu công nghiệp, Hải Phòng đang hướng tới hình thành các chuỗi liên kết giữa khu công nghiệp, logistic, cảng biển, đô thị, dịch vụ theo mô hình của Singapore...