Định kiến giới là thách thức lớn nhất khi phụ nữ Việt Nam tham gia STEM
Bảo Bình
06/03/2025
Nghiên cứu khẳng định năng lực STEM của nam và nữ là như nhau, nhưng phụ nữ vẫn tham gia hạn chế trong lĩnh vực này. Điều này cho thấy vấn đề không nằm ở năng lực, mà ở cơ hội và môi trường xã hội…
Trong bối cảnh Việt Nam đang phát triển kinh tế mạnh mẽ và hội nhập sâu rộng với thế giới, sự tham gia của phụ nữ và các em gái vào các lĩnh vực Khoa học, Công nghệ, Kỹ thuật và Toán học (STEM) không chỉ là vấn đề bình đẳng giới mà còn là chìa khóa để tối ưu hóa nguồn lực quốc gia.
TỶ LỆ PHỤ NỮ VIỆT NAM GIỮ CÁC VỊ TRÍ LÃNH ĐẠO TRONG STEM “RẤT THẤP”
So với thế giới, Việt Nam đang ghi dấu ấn tích cực về tỷ lệ phụ nữ và các em gái tham gia STEM. Theo các báo cáo từ UNESCO và các tổ chức quốc tế, tỷ lệ trung bình toàn cầu của nữ giới trong các ngành Khoa học, Công nghệ, Kỹ thuật và Toán học chỉ khoảng 30%. Con số này được tính dựa trên dữ liệu từ nhiều quốc gia, từ các nước phát triển như Mỹ, châu Âu đến các nước đang phát triển ở châu Phi và châu Á. Tuy nhiên, tại Việt Nam, các khảo sát từ Bộ Giáo dục và các tổ chức phi chính phủ cho thấy tỷ lệ này cao hơn, đạt khoảng 37-38%.
So sánh với các nước Đông Nam Á như Thái Lan hay Indonesia – nơi tỷ lệ chỉ dao động từ 30-32% – Việt Nam nổi bật hơn hẳn. Theo bà Trần Vân Anh, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý Phát triển bền vững (MSD), đây là một tín hiệu đáng khích lệ, phản ánh những tiến bộ trong giáo dục khi các trường học ngày càng khuyến khích học sinh tiếp cận STEM từ sớm. Các cuộc thi khoa học, lớp học lập trình và chương trình hỗ trợ nữ sinh của Bộ Giáo dục đã giúp các em gái có cơ hội tiếp cận lĩnh vực này, tạo ra kết quả vượt trội so với nhiều quốc gia khác.
Tuy nhiên, bà Vân Anh cho rằng con số 37-38% vẫn cho thấy một khoảng cách giới đáng kể. Có thể hình dung, trong một lớp học STEM giả định với 100 người, chỉ khoảng 37 người là nữ, còn lại 63 người là nam. “Sự mất cân bằng này không hề nhỏ, khi hơn 60% tổng số người tham gia STEM là nam giới”, bà Vân Anh nói.
Đặc biệt, dù đã tăng đến con số 37-38%, nhưng tỷ lệ phụ nữ giữ các vị trí lãnh đạo trong STEM tại Việt Nam – như giám đốc công nghệ (CTO), trưởng nhóm nghiên cứu AI hay nhà khoa học hàng đầu – vẫn rất thấp. Chia sẻ về vấn đề này, bà Vân Anh, cho biết dù 37% phụ nữ Việt Nam tham gia STEM, phần lớn họ vẫn làm công việc hỗ trợ như hành chính, tiếp thị thay vì các vị trí kỹ thuật cao như lập trình, thiết kế máy móc hay nghiên cứu khoa học.
“Khái niệm "leaky pipeline" (ống nước rò rỉ) đã được các nhà nghiên cứu sử dụng để mô tả sự suy giảm dần số lượng phụ nữ trong lĩnh vực STEM. Hình ảnh này cho thấy mặc dù có 37% nữ sinh bắt đầu học STEM, nhưng càng tiến xa trong con đường học tập và sự nghiệp – từ đại học, đến các công việc kỹ thuật chuyên sâu, rồi lên các vị trí lãnh đạo – thì tỷ lệ này giảm dần. Giống như một đường ống bị rò rỉ, nữ giới dần "rơi rụng" ở mỗi giai đoạn. Đến cuối hành trình, ở các vị trí cao nhất như kỹ sư trưởng hay nhà khoa học hàng đầu, số lượng phụ nữ còn lại là rất ít. Hiện tượng này cũng xảy ra tại Việt Nam, khi từ mức 37% ban đầu, tỷ lệ phụ nữ trong STEM giảm đáng kể khi bước lên các cấp cao hơn”, lãnh đạo MSD nói.
KHÔNG CÓ SỰ KHÁC BIỆT VỀ NĂNG LỰC STEM GIỮA NAM VÀ NỮ
Bà Trần Vân Anh cho biết nghiên cứu đã chỉ ra rằng không có sự khác biệt về năng lực STEM giữa nam và nữ. Các nhà nghiên cứu đã kiểm tra tư duy logic, khả năng giải quyết vấn đề, tính toán và sáng tạo của hàng ngàn người ở nhiều lĩnh vực như kỹ sư, lập trình viên, nhà khoa học, nhà toán học. Kết quả cho thấy cả hai giới đạt tỷ lệ chính xác tương đương khi được đào tạo như nhau, chứng minh rằng năng lực STEM không phụ thuộc vào giới tính mà do yếu tố khác.
“Nghiên cứu khẳng định năng lực STEM của nam và nữ là như nhau, nhưng phụ nữ vẫn tham gia hạn chế trong lĩnh vực này. Điều này cho thấy vấn đề không nằm ở năng lực, mà ở cơ hội và môi trường xã hội”, bà Vân Anh nói.
Theo chuyên gia của MSD, định kiến giới là rào cản lớn nhất đối với phụ nữ trong lĩnh vực STEM. Ở Việt Nam, STEM thường được xem là “địa hạt của nam giới”. Nhiều người mặc định con trai giỏi toán, công nghệ, kỹ thuật, còn con gái hợp với văn, chăm sóc, hay các nghề như giáo viên, y tá. Định kiến này không chỉ đến từ nam giới mà đôi khi chính phụ nữ cũng tự giới hạn bản thân.
Khảo sát năm 2023 của MSD với gần 7.000 học sinh trên cả nước cho thấy hơn 70% học sinh thường xuyên nghe và đồng ý với quan niệm “con trai hợp làm kỹ sư, con gái hợp làm giáo viên”. Đáng chú ý, 100% giáo viên được phỏng vấn cũng cho rằng con trai có thế mạnh về khoa học tự nhiên, còn con gái phù hợp với môn xã hội.
"Sự tham gia của phụ nữ trong STEM không chỉ quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội mà còn mở ra cơ hội nghề nghiệp bền vững. Một lập trình viên nữ có thể kiếm được công việc lương cao, hay một nhà khoa học nữ có thể tạo ra công nghệ mới giúp Việt Nam cạnh tranh quốc tế".
"Sự tham gia của phụ nữ trong STEM không chỉ quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội mà còn mở ra cơ hội nghề nghiệp bền vững. Một lập trình viên nữ có thể kiếm được công việc lương cao, hay một nhà khoa học nữ có thể tạo ra công nghệ mới giúp Việt Nam cạnh tranh quốc tế".
Rõ ràng, định kiến giới đã len lỏi vào giáo dục. Thầy cô thường khuyến khích con trai học toán, lý, hóa, còn con gái học văn, sử, địa. Điều này khiến nữ sinh mất tự tin theo đuổi STEM, dù năng lực không thua kém. Khi giáo viên nói “con hợp với văn hơn toán”, một học sinh nữ có thể bị loại khỏi đội tuyển toán dù có tiềm năng. “Trong trường hợp này, tự tin, yếu tố then chốt để thành công trong STEM, đã bị định kiến làm suy giảm”.
Hơn nữa, khi phụ nữ trở thành thiểu số trong STEM, họ dễ cảm thấy lạc lõng. Chẳng hạn, trong một phòng kỹ thuật với 20 người mà chỉ có 2-3 người là nữ, họ có thể chịu áp lực, thiếu hỗ trợ và đôi khi bị phân biệt đối xử. Điều này khiến việc gắn bó với STEM trở thành thách thức lớn.
STEM MỞ RA CƠ HỘI NGHỀ NGHIỆP BỀN VỮNG, LƯƠNG CAO CHO PHỤ NỮ
Theo bà Trần Vân Anh, để thu hẹp khoảng cách giới trong STEM, cần hành động từ nhiều phía. Trước hết, gia đình và nhà trường phải thay đổi cách tiếp cận. Chính phủ cũng có thể điều chỉnh giáo dục STEM để khuyến khích nữ sinh tham gia. Chẳng hạn, sách giáo khoa cần cân bằng hình ảnh: thay vì chỉ có “chú kỹ sư” hay “anh lập trình viên”, cần thêm “cô kỹ sư” hay “chị lập trình viên”. Hiện nay, hình ảnh nghề y tá, giáo viên thường gắn với nữ, còn STEM gắn với nam, vô tình củng cố định kiến. Một tỷ lệ hình minh họa nam – nữ cân bằng sẽ tạo nhận thức bình đẳng từ nhỏ.
Ngoài ra, chính sách không chỉ dừng ở tuyển sinh mà cần đảm bảo môi trường học tập thân thiện với nữ sinh. Bởi vì, dù nhiều trường kỹ thuật không phân biệt giới khi xét tuyển, nữ sinh vẫn gặp khó khăn: lớp học toàn nam, ít giảng viên nữ. Điều này khiến họ cảm thấy lạc lõng và khó theo đuổi ngành. Các trường cần đầu tư vào cơ sở vật chất, tăng số giảng viên nữ và tạo cộng đồng hỗ trợ để nữ sinh tự tin hơn.
Sự tham gia của phụ nữ trong STEM không chỉ là vấn đề công bằng mà còn là động lực đổi mới sáng tạo. Phụ nữ trong khoa học có thể nghiên cứu giải pháp mới, trong công nghệ có thể phát triển phần mềm, trong kỹ thuật có thể thiết kế máy móc, và trong toán học có thể phân tích dữ liệu. Khi họ tham gia nhiều hơn, Việt Nam không chỉ tận dụng được toàn bộ tiềm năng nguồn lực mà còn nâng cao vị thế trên trường quốc tế.
Đặc biệt, sự tham gia của phụ nữ trong STEM không chỉ quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội mà còn mở ra cơ hội nghề nghiệp bền vững. Một lập trình viên nữ có thể kiếm được công việc lương cao, hay một nhà khoa học nữ có thể tạo ra công nghệ mới giúp Việt Nam cạnh tranh quốc tế.
“Đây là lợi ích kép: vừa thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, vừa nâng cao vị thế của phụ nữ trong xã hội”, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý Phát triển bền vững nói.
The WISE Talk số 21 với chủ đề "An ninh mạng trong kỷ nguyên AI" được phát sóng trên trang chủ và Fanpage của VnEconomy vào 14:00, ngày 20/08/2026.
Theo Báo cáo của ILO, khoảng 11,5 triệu lao động tại Việt Nam, tương đương 1/5 lực lượng lao động, đang làm những công việc có khả năng chịu tác động của AI tạo sinh…
Trong bức tranh kinh doanh hiện đại, trí tuệ nhân tạo (AI) đang được ví như một động cơ siêu tốc, thúc đẩy mọi doanh nghiệp chuyển mình. Thế nhưng, đằng sau sự hào nhoáng của những cơ hội tăng trưởng ấy lại là một thực tế đáng báo động…
Lượng tử là lĩnh vực mà Việt Nam “khó có thể đứng ngoài”. Vấn đề đặt ra là phát triển theo cách phù hợp để bắt kịp thế giới, trong đó chuẩn bị nguồn nhân lực là một trong những yêu cầu quan trọng nhất...
Dữ liệu có thể trở thành “tiêu sản” nếu quản trị không tốt, sai lệch, không được khai thác hoặc chi phí lưu trữ, quản lý lớn hơn giá trị mà dữ liệu mang lại…
Cuộc đua AI trong doanh nghiệp không nằm ở việc ai có nhiều công cụ hơn, mà ở việc ai xác định đúng bài toán hơn. Doanh nghiệp cần nhìn AI từ góc độ giá trị kinh doanh, thay vì chỉ đo số lượng người dùng, số lượng chatbot hay số quy trình được tự động hóa...
Năng lượng ổn định, chi phí hợp lý cần được xem là nền tảng chiến lược cho mục tiêu phát triển AI của Việt Nam, bên cạnh dữ liệu, chip và hạ tầng điện toán.
Việc từng bước đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học đang đặt ngành giáo dục trước yêu cầu lớn về phát triển đội ngũ giáo viên, đổi mới phương pháp giảng dạy và xây dựng môi trường sử dụng ngoại ngữ thường xuyên, hiệu quả…
Với quy mô dân số khoảng 100 triệu người, Việt Nam đang sở hữu thị trường công nghệ giáo dục lớn. Tuy nhiên, thị trường EdTech đang đứng trước một giai đoạn chuyển dịch quan trọng…
Dữ liệu tin cậy là lớp nền tảng để hình thành tài chính số và nền kinh tế số. Nếu thiếu một hạ tầng tin cậy và khả năng liên thông dữ liệu, tài sản số khó có thể phát huy đầy đủ giá trị trong nền kinh tế…