Chủ tịch Tập đoàn Công nghệ Bkav Nguyễn Tử Quảng hơn 6 năm nay vẫn tự lo nguồn vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh, nhất là mỗi khi có các dự án công nghệ mới cần vốn, trong đó đặc biệt là khát khao sản xuất điện thoại smartphone. Nhu cầu vay vốn ngân hàng để làm điện thoại của Bkav từng ở thời điểm bức thiết, nhưng “cánh cửa ngân hàng vẫn khép chặt”, vì ý tưởng và dự án công nghệ của Bkav không có giá trị định giá như các tài sản hữu hình.
Bkav là công ty về phần mềm và an ninh mạng, hoạt động kinh doanh khá hiệu quả và đem lại lợi nhuận cao. Đặc biệt những năm 2008-2009, nguồn thu từ lĩnh vực phần mềm và an ninh mạng của Bkav lên tới cả trăm tỷ đồng. Từ 2009, sau khi có khoản tích lũy khá lớn, Bkav bắt đầu mở hướng đầu tư vào smartphone và đến năm 2015 thì thành công khi chính thức sản xuất được smartphone. Trong khoảng thời gian 6 năm nghiên cứu để làm chủ và sản xuất thành công lĩnh vực điện thoại di động, Bkav đã tiêu tốn khoảng 500-600 tỷ đồng.
Lúc ra phiên bản 1 năm 2015 Bkav vẫn chưa cần đến tiền vay, nhưng đối với phiên bản 2 năm 2017, khi sản phẩm đã thực sự hoàn thiện và nhìn nhận thị trường có thể bùng nổ, Bkav có nhu cầu vay thêm 300 tỷ đồng để sản xuất số lượng điện thoại đủ lớn khi mà Bkav đã ký được với Thế Giới Di Động về phân phối điện thoại Bphone trên hệ thống bán lẻ của hãng với 2.000 cửa hàng. Vốn của Bkav lúc đó chỉ đủ để sản xuất 300 chiếc, trong khi nhu cầu sản xuất tới 2.000 máy.
“Giá một chiếc điện thoại lên tới chục triệu đồng, mà đã sản xuất thì phải sản xuất lớn, do đó cần một khoản tiền đủ lớn để nâng quy mô sản xuất. Bkav đi gõ cửa ngân hàng vay 300 tỷ đồng nhưng không ngân hàng nào cho vay”, Chủ tịch Bkav nói với vẻ tiếc nuối khi mà Bkav đã sẵn sàng bỏ ra 1.000 tỷ đồng trước đó cho lĩnh vực này để nuôi khát vọng và đam mê làm chủ công nghệ lõi, làm chủ thiết kế với ngành công nghiệp smartphone, nhưng lại “bất lực” trước 300 tỷ đồng vốn vay. Hệ quả, theo Bkav, cứ 10 cửa hàng Thế Giới Di Động thì chỉ một cửa hàng có điện thoại Bphone, còn lại 9 cửa hàng khách hàng đến không nhìn thấy, không trải nghiệm được sản phẩm.
Không giống Bkav ở lĩnh vực phần mềm, Công ty Cổ phần Dược thảo Thiên Phúc là doanh nghiệp khoa học và công nghệ tiên phong trong nuôi trồng đông trùng hạ thảo. Với 15 kinh nghiệm, Thiên Phúc đã nghiên cứu hoàn thiện quy trình sản xuất nâng cao định chuẩn hàm lượng cordycepin để bào chế ra nhiều sản phẩm phù hợp hơn với người dùng. Công ty này mỗi năm dành 25-30% doanh thu thuần để đầu tư cho nghiên cứu và sản xuất thử nghiệm.
Tuy nhiên, Thiên Phúc cũng không nằm ngoài những khó khăn mà hầu hết các doanh nghiệp khoa học và công nghệ gặp phải. Bà Nguyễn Thị Hồng, Giám đốc Công ty Thiên Phúc cho biết thực tế để được chứng nhận là doanh nghiệp khoa học và công nghệ, hiện nhiều đơn vị phải trải qua quá trình thẩm định hồ sơ với nhiều thủ tục và quy định rườm rà. Mặt khác, doanh nghiệp cũng gặp nhiều khó khăn về nguồn lực tài chính để đầu tư công nghệ, nguồn nhân lực chất lượng cao.
“Để tiếp cận được các chính sách hỗ trợ của Nhà nước, doanh nghiệp khoa học và công nghệ phải có doanh thu của sản phẩm hình thành từ kết quả nghiên cứu khoa học và công nghệ đạt tỷ lệ tối thiểu 30% trên tổng doanh thu mới được miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp. Mặc dù mức tỷ lệ này đã giảm so với trước đây, nhưng nhiều doanh nghiệp khoa học và công nghệ vẫn khó có thể đạt để được hưởng ưu đãi”, bà Hồng bày tỏ, và cho rằng cần có chính sách hỗ trợ kinh phí cho nghiên cứu khoa học và công nghệ tại các doanh nghiệp khoa học và công nghệ.
Rất nhiều doanh nghiệp khoa học và công nghệ đều cho rằng ngân sách cho hoạt động khoa học và công nghệ còn rất ít và thủ tục thì nhiều và khó giải ngân. Vốn ngân sách cho khoa học và công nghệ tiếp cận đã khó nhưng lại giảm dần qua các năm, từ 1,1% năm 2017 xuống còn 0,82% năm 2023.
Từ thực tiễn của doanh nghiệp, ông Trần Mạnh Báo, Chủ tịch Tập đoàn ThaiBinh Seed, cho hay bên cạnh những khó khăn về thương mại hóa sản phẩm, việc chứng nhận các sản phẩm khoa học và công nghệ thuộc doanh nghiệp khoa học và công nghệ còn nhiều phức tạp do đòi hỏi nhiều thủ tục,… thì việc thực hiện các đề tài, dự án có hỗ trợ ngân sách Nhà nước còn nhiều thủ tục phức tạp. Chính sách thuế còn chưa ưu tiên so với các doanh nghiệp khác.
Tính đến 31/12/2022, cả nước đã cấp giấy chứng nhận doanh nghiệp khoa học và công nghệ cho 712 doanh nghiệp trên tổng số 3.000 doanh nghiệp tiềm năng, tăng 76 doanh nghiệp so với cùng thời điểm năm 2021. Trong tổng số 712 doanh nghiệp khoa học và công nghệ được cấp giấy chứng nhận, khoảng 7% doanh nghiệp được cấp giấy chứng nhận từ kết quả khoa học và công nghệ có nguồn gốc từ ngân sách Nhà nước. Hơn 90% doanh nghiệp còn lại tự đầu tư nghiên cứu hoặc nhận chuyển giao kết quả khoa học và công nghệ bằng toàn bộ nguồn vốn của chính doanh nghiệp.
Theo khảo sát của Hiệp hội Doanh nghiệp khoa học và công nghệ Việt Nam (VST) đối với 167 doanh nghiệp thành viên, phần lớn các doanh nghiệp khoa học và công nghệ cho biết họ không được hưởng chính sách ưu đãi theo Nghị định 13. Chỉ có 6 doanh nghiệp được ưu đãi theo Nghị định 13 với tổng số tiền ưu đãi là 91 tỷ đồng. Trong khi đó, 18 doanh nghiệp chưa biết tiếp cận cơ chế ưu đãi như thế nào. Có doanh nghiệp có doanh thu sản phẩm khoa học công nghệ không đủ tỷ lệ 30% để nhận ưu đãi, và có tới 141 doanh nghiệp chưa được hưởng ưu đãi.
Mặc dù Nghị định 13/2019 được xem là bước đột phá về cơ chế hỗ trợ hoạt động doanh nghiệp khoa học và công nghệ với các ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp, đất đai, tín dụng, nhưng theo ông Hoàng Đức Thảo, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp khoa học và công nghệ Việt Nam, khi thực thi doanh nghiệp còn gặp nhiều vướng mắc, chưa được hưởng đầy đủ ưu đãi theo quy định...
Nội dung bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 48-2023 phát hành ngày 27-11-2023. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:
https://postenp.phaha.vn/chi-tiet-toa-soan/tap-chi-kinh-te-viet-nam
Năm 2018, khi bắt tay xây dựng CXMT, ông Zhu Yiming được cho là đã cam kết sẽ không nhận lương cho đến khi công ty có lãi. Và phải đến năm ngoái, CXMT mới lần đầu tiên ghi nhận lợi nhuận...
Bộ Công Thương được giao chủ trì xây dựng phương án bảo đảm nguồn cung điện phục vụ các trung tâm dữ liệu và hạ tầng tính toán hiệu năng cao, có dự báo nhu cầu đến năm 2030. Nhiệm vụ phải được hoàn thành trước ngày 30/10...
Thủ tục bao gồm cấp giấy phép xây dựng nhà máy điện hạt nhân, vận hành nhà máy điện hạt nhân...
Bức tranh tổng thể kinh tế năm 2026 cho thấy xu hướng chuyển dịch rõ rệt giữa khu vực Doanh nghiệp và Kinh tế cá thể. Ở khu vực Doanh nghiệp tăng trưởng nhanh về số lượng, thu hút và phát triển lực lượng lao động lớn thì ở khu vực Kinh tế cá thể tốc độ tăng quy mô lại có xu hướng chậm lại, tỷ trọng lao động có sự dịch chuyển.
Mức hỗ trợ từ ngân sách cho các đơn vị, cá nhân thực hiện nhiệm vụ công nghệ chiến lược được đề xuất xác định trên 5 cơ sở: mục tiêu làm chủ công nghệ, giai đoạn phát triển công nghệ, mức độ rủi ro khoa học và công nghệ, khả năng huy động nguồn lực ngoài ngân sách nhà nước, khả năng thương mại hóa và lan tỏa kết quả nghiên cứu...
Dưới tác động của biến đối khi hậu, tình trạng thời tiết, thiên tai diễn biến bất thường, cực đoan hơn, đòi hỏi công tác dự báo, cảnh báo sớm, giúp các ngành, địa phương và người dân chủ động ứng phó, giảm thiểu thiệt hại. Đặc biệt với các hiện tượng khí hậu như El Nino, ông Hoàng Đức Cường cho rằng khi nhận diện sớm nguy cơ, dự báo cảnh báo sớm sẽ giúp có thời gian chủ động lên kế hoạch sớm, có các giải pháp ứng phó, góp phần giảm thiểu ảnh hưởng, tác động đến hoạt động sản xuất và đời sống sinh hoạt của người dân.
Bức tranh tổng thể kinh tế năm 2026 cho thấy xu hướng chuyển dịch rõ rệt giữa khu vực Doanh nghiệp và Kinh tế cá thể. Ở khu vực Doanh nghiệp tăng trưởng nhanh về số lượng, thu hút và phát triển lực lượng lao động lớn thì ở khu vực Kinh tế cá thể tốc độ tăng quy mô lại có xu hướng chậm lại, tỷ trọng lao động có sự dịch chuyển.