Trong nhiều năm qua, y học hiện đại đã đạt những bước tiến quan trọng trong cấp cứu và điều trị đột quỵ. Tuy nhiên, theo các chuyên gia, điều đáng lo ngại là không ít trường hợp “sống sót” nhưng phải chấp nhận cuộc sống phụ thuộc, tàn phế, chỉ vì quá trình phục hồi chức năng không được thực hiện đầy đủ và liên tục.
Thực tế lâm sàng cho thấy, đột quỵ không kết thúc khi bệnh nhân qua cơn nguy hiểm. Ngược lại, sau cấp cứu mới là giai đoạn quyết định người bệnh có thể phục hồi đến đâu, sống độc lập hay lệ thuộc lâu dài. Theo bác sĩ Nguyễn Thị Ninh Thùy, Khoa Phục hồi chức năng, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108, một trong những vấn đề lớn hiện nay là tư duy điều trị vẫn thiên về cứu sống, trong khi phục hồi chưa được đặt ở vị trí trung tâm.
PGS. Nguyễn Huy Thắng, Trưởng khoa bệnh lý mạch máu não Bệnh viện Nhân dân 115 (TP.HCM), cũng cho rằng khi nhắc đến đột quỵ đa số người dân thường nghĩ đến ranh giới sinh - tử. Nhưng với những người làm trong lĩnh vực này, điều đáng sợ nhất không phải là cái chết mà là di chứng tàn phế, ảnh hưởng đến khả năng vận động, sinh hoạt, giao tiếp xã hội.
Thống kê cho thấy tỉ lệ tử vong do đột quỵ chỉ chiếm 15 - 20% tổng số ca, trong khi 50% người bệnh phải sống với tàn phế và chỉ khoảng 30% có thể hồi phục gần như bình thường. "Nếu nhìn riêng vào tỉ lệ tử vong, con số này không quá cao. Điều đáng lo ngại chính là tỉ lệ tàn phế lớn khiến người bệnh chịu đựng cả đau đớn thể chất lẫn tinh thần", PGS. Thắng nói.
Tại Hội nghị khoa học “Phục hồi chức năng đa chuyên ngành cho người bệnh đột quỵ” mới đây, TS.BSCKII. Đỗ Trọng Ánh, Trưởng ngành Kỹ thuật Phục hồi chức năng, Chủ nhiệm Bộ môn Phục hồi chức năng và Y học cổ truyền - Khoa Y Đại Học Nguyễn Tất Thành, đã nhấn mạnh vai trò then chốt của can thiệp đa chuyên ngành trong phục hồi và tái hòa nhập cộng đồng cho người bệnh sau đột quỵ.
Theo đó, phục hồi chức năng chỉ thực sự hiệu quả khi được đặt trong một hệ thống can thiệp toàn diện, thay vì chỉ tập trung vào tập luyện vận động đơn lẻ. Phục hồi chức năng đa chuyên ngành được hiểu là sự hợp tác chặt chẽ giữa các bác sĩ nội khoa, thần kinh, phục hồi chức năng, điều dưỡng, kỹ thuật viên, chuyên gia tâm lý, dinh dưỡng, ngôn ngữ trị liệu, hoạt động trị liệu và các lĩnh vực liên quan.
Mỗi thành viên đóng góp chuyên môn riêng, nhưng cùng hướng tới một mục tiêu chung: giúp người bệnh phục hồi chức năng, ngừa tái phát và từng bước quay trở lại đời sống sinh hoạt, lao động. TS. Đỗ Trọng Ánh cho rằng, dù khái niệm đa chuyên ngành không mới, nhưng việc hiểu và triển khai trên thực tế vẫn còn nhiều bất cập.
Tại nhiều cơ sở, mô hình phục hồi chức năng còn mang tính tự phát, thiếu định hướng đồng bộ; cơ cấu tổ chức chưa rõ ràng. Thậm chí bệnh viện phục hồi chức năng vẫn được thiết kế và vận hành giống bệnh viện đa khoa, không phù hợp với nhu cầu đặc thù của người bệnh đột quỵ.
Một vấn đề quan trọng khác được ông nhấn mạnh là thời điểm can thiệp. Ba tháng đầu sau đột quỵ được xem là “giai đoạn vàng” của phục hồi chức năng, khi khả năng hồi phục còn cao. Đây là thời điểm cần sự tham gia mạnh mẽ, liên tục và đầy đủ của các chuyên ngành. Sau giai đoạn này, phục hồi chức năng chuyển sang mục tiêu hòa nhập và duy trì, nhưng hiệu quả phục hồi tối ưu nhất vẫn nằm ở những tháng đầu.
Trong mô hình can thiệp đa chuyên ngành được TS.BS.CK2 Đỗ Trọng Ánh đề xuất, vai trò của bác sĩ nội khoa và thần kinh cần được đặt lên hàng đầu. Theo ông, không thể nói đến phục hồi chức năng nếu người bệnh chưa được kiểm soát tốt các bệnh nền như tăng huyết áp, đái tháo đường, suy thận, nhiễm trùng hay các biến chứng nguy hiểm như thuyên tắc phổi. Trên thực tế lâm sàng, nhiều bệnh nhân đột quỵ có thể tử vong bất cứ lúc nào nếu chỉ tập trung “tập luyện” mà bỏ qua yếu tố nội khoa.
Bên cạnh đó, bác sĩ phục hồi chức năng giữ vai trò trưởng nhóm, điều phối toàn bộ hoạt động can thiệp. Tuy nhiên, TS.BS.CK2 Đỗ Trọng Ánh thẳng thắn chỉ ra rằng, bác sĩ phục hồi chức năng hiện nay cần được đào tạo và cập nhật nhiều hơn, không chỉ giới hạn ở vật lý trị liệu, mà còn phải hiểu biết về hoạt động trị liệu, ngôn ngữ trị liệu, tâm lý lâm sàng để có thể chỉ định và phối hợp hiệu quả các phương pháp.
Tin vui là hiện nay, công nghệ hiện đại đã có sự tham gia đáng kể và trợ giúp hiệu quả cho các bác sĩ. Tại hội thảo, BSNT. Tạ Trung Nghĩa, Khoa Y trường Đại học Nam Cần Thơ, cho hay công nghệ thực tế ảo (Virtual Reality - VR) được xem là một xu hướng mới, bổ sung quan trọng cho phục hồi chức năng chi trên sau đột quỵ.
Tùy mức độ tham gia, VR được chia thành ba dạng: không nhập vai (tương tự chơi game trên máy tính), bán nhập vai (kết hợp màn hình lớn và một số thiết bị hỗ trợ) và nhập vai hoàn toàn, trong đó người bệnh đeo kính, sử dụng bộ cảm biến và dụng cụ cầm tay để tương tác trực tiếp với môi trường ảo.
Ở dạng nhập vai, người bệnh có thể thực hiện các nhiệm vụ quen thuộc như phân loại đồ vật, chọn thực phẩm, thao tác cầm, nắm, thả, mô phỏng sát với hoạt động sinh hoạt hằng ngày. Điểm nổi bật của VR là người bệnh không chỉ vận động tay, mà còn đồng thời huy động nhiều giác quan như thị giác, thính giác và xúc giác, qua đó tăng hoạt hóa các vùng vỏ não vận động và cải thiện kết nối mạng lưới thần kinh.
Một ưu điểm khác là VR có thể ghi nhận, phản hồi và lưu trữ dữ liệu vận động, giúp kỹ thuật viên đánh giá tiến triển trước, sau can thiệp và điều chỉnh bài tập phù hợp. Với một số chương trình, tay lành có thể hỗ trợ kích hoạt vận động tay liệt, cơ chế tương tự liệu pháp gương, giúp người bệnh tập luyện ngay cả khi sức cơ còn hạn chế.
Tương tự, theo PGS.TS.BS Lương Tuấn Khanh, Giám đốc Trung tâm Phục hồi chức năng, Bệnh viện Bạch Mai, các kỹ thuật kích thích não không xâm lấn được xếp vào nhóm can thiệp “điều biến thần kinh”. Mục tiêu điều chỉnh tính dễ kích thích của tế bào thần kinh, từ đó hỗ trợ não bộ học lại các chức năng đã mất.
Thực tiễn lâm sàng cho thấy, kích thích não không xâm lấn giúp cải thiện vận động chi trên, hỗ trợ phục hồi nuốt, ngôn ngữ, nhận thức, giảm trầm cảm và đau thần kinh sau đột quỵ. Tuy nhiên, hiệu quả rõ rệt nhất chỉ đạt được khi các kỹ thuật này được kết hợp chặt chẽ với các phương pháp phục hồi chức năng truyền thống như vật lý trị liệu, hoạt động trị liệu, ngôn ngữ trị liệu hay các chương trình tập luyện chuyên biệt.
Trong bối cảnh nhu cầu chăm sóc mắt ngày càng gia tăng, các bệnh viện đang phải vận hành với cường độ rất cao để đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh của người dân. Song song, các bác sĩ không ngừng cập nhật kiến thức mới và nâng cao năng lực chuyên môn…
Hà Nội đang bước vào giai đoạn già hóa dân số nhanh chóng, đặt ra yêu cầu phải có giải pháp an sinh chủ động. Việt Hưng là một trong 6 phường được thành phố lựa chọn triển khai thí điểm mô hình chăm sóc người cao tuổi ban ngày…
Tại Việt Nam, gần 70 triệu người trong độ tuổi 15 - 64 là lợi thế lớn để đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới. Tuy nhiên, cùng với cơ hội là nhiều thách thức lớn đang đặt ra đối với công tác dân số và phát triển, nhất là đối với giới trẻ…
Các chuyên gia sản phụ khoa và nhi khoa cho biết việc chăm sóc thai kỳ theo hướng chủ động, kết hợp các biện pháp dự phòng phù hợp, có vai trò quan trọng trong hỗ trợ bảo vệ trẻ trước virus hợp bào hô hấp (RSV), nhất là trong 6 tháng đầu đời - giai đoạn hệ miễn dịch còn non yếu...
Trong y khoa, quyết định cuối cùng phải xuất phát từ bác sỹ lâm sàng. Việc khám trực tiếp, theo dõi diễn tiến, đánh giá phản xạ, sức cơ, tư thế bảo vệ, mức độ vận động và đối chiếu với hình ảnh học chính là cơ sở để các bác sĩ lựa chọn phương án can thiệp phù hợp…
Việt Nam cũng đã từng bước hoàn thiện hành lang pháp lý cho hình thành, phát triển thị trường carbon, vận hành sàn giao dịch carbon trong nước, đồng thời chủ động kết nối với thị trường quốc tế. Các chuyên gia là đại diện cơ quan quản lý, các chuyên gia trong nước và quốc tế, doanh nghiệp về tiềm năng, sẽ cùng phân tích các cơ hội cũng như những vấn đề đặt ra và kiến nghị giải pháp để khai thác hiệu quả sân chơi mới này.
Nhiều chính sách đột phá được đưa vào dự thảo Luật Nhà ở (sửa đổi), trong đó có việc triệt để cắt giảm thủ tục hành chính, phân cấp mạnh về địa phương. Đặc biệt là cơ chế hoàn toàn mới về nhà ở thương mại giá phù hợp và luật hóa phát triển nhà ở cho thuê.