Tổng cục Hải quan vừa công bố số liệu sơ bộ tính từ đầu năm đến hết 15/9/2021 với tổng kim ngạch xuất nhập khẩu cả nước đạt gần 455 tỷ USD. Trong đó, tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa đạt 225,198 tỷ USD; tổng kim ngạch nhập khẩu hàng hóa đạt 229,384 tỷ USD, cán cân thương mại hàng hóa thâm hụt gần 4,186 tỷ USD.
Cụ thể, về xuất khẩu, trong kỳ 1 tháng 9/2021 (từ 01/09 – 15/09) đạt 11,57 tỷ USD, giảm 27,1% so với kỳ 2 tháng 8/2021.
Trong đó, điện thoại các loại và linh kiện đạt 2,38 tỷ USD; máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện đạt 1,98 tỷ USD; máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng khác đạt 1,33 tỷ USD; hàng dệt may 1,02 tỷ USD; sắt thép các loại 491 triệu USD.
Lũy kế từ đầu năm đến hết 15/9/2021, tổng trị giá xuất khẩu của Việt Nam đạt 225,198 tỷ USD, tăng 19,8% so với cùng kỳ năm 2020.
Các mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu lớn là điện thoại và các loại linh kiện đạt hơn 37,7 tỷ USD; máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện đạt trên hơn 33,77 tỷ USD; máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng khác đạt hơn 24,5 tỷ USD; hàng dệt may đạt trên 22,15 tỷ USD; giày dép các loại đạt gần 13 tỷ USD; sắt thép các loại đạt hơn 7,52 tỷ USD…
Từ chiều ngược lại, trong kỳ 1 tháng 9/2021 (từ 01/09 – 15/09) nhập khẩu đạt 13,08 tỷ USD, giảm 10,5% so với kỳ 2 tháng 8/2021.
Trong đó, máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện đạt 3,26 tỷ USD; máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng khác đạt 1,85 tỷ USD; điện thoại các loại và linh kiện đạt 975 triệu USD; sắt thép các loại 521 triệu USD; vải các loại 471 triệu USD.
Tính chung từ đầu năm đến hết 15/9/2021, tổng trị giá nhập khẩu của Việt Nam đạt 229,384 tỷ USD tỷ USD, tăng 32,2% so với cùng kỳ năm 2020…
Trong đó, các mặt hàng có kim ngạch nhập khẩu lớn là: máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện đạt hơn 50,125 tỷ USD; máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng đạt gần 33 tỷ USD; điện thoại và các loại linh kiện đạt hơn 13,56 tỷ USD); sắt, thép các loại đạt hơn 8,2 tỷ USD; vải các loại đạt gần 10 tỷ USD...
Nhìn vào số liệu xuất nhập khẩu có thể thấy, tốc độ tăng của xuất khẩu đang “hụt hơi” so với tốc độ tăng của nhập khẩu. Theo lý giải từ Bộ Công Thương, việc xuất khẩu tăng chậm lại là do 19 tỉnh, thành phố phía Nam phải thực hiện giãn cách xã hội để đảm bảo công tác phòng, chống dịch Covid-19.
Đây là các địa phương chiếm tới 45% tỷ trọng xuất khẩu hàng hoá của cả nước, chưa kể các địa phương khác trọng điểm khác cũng phải giãn cách xã hội như Hà Nội hay Đà Nẵng. Trong giai đoạn giãn cách xã hội, hoạt động của các doanh nghiệp bị đình trệ rất lớn gây ảnh hưởng tới tốc độ xuất khẩu.
Trước tác động của dịch bệnh Covid-19, ách tắc trong sản xuất, lưu thông hàng hóa đã và đang được tập trung tháo gỡ quyết liệt; tuy nhiên tại một số địa phương, công tác tổ chức thực hiện có nơi, có lúc còn cứng nhắc, ban hành một số quy định không phù hợp, thiếu đồng bộ, thiếu thống nhất, không tuân thủ chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, hướng dẫn của các cơ quan Trung ương.
Các nhà máy, đơn vị sản xuất đóng tại địa phương là một mắt xích của chuỗi sản xuất, chuỗi cung ứng nên khi bị gián đoạn tại một địa phương đã tác động dây chuyền, gây khó khăn trong hoạt động sản xuất, kinh doanh. Nhiều doanh nghiệp sản xuất, xuất khẩu bị ảnh hưởng, phải trì hoãn, hủy đơn hàng, có nguy cơ bị mất thị trường, thay đổi chuỗi cung ứng.
Hiện nay, nhu cầu hàng hóa trên thị trường thế giới vẫn đang trong xu hướng phục hồi trở lại, trong đó việc Mỹ và EU tái mở cửa nền kinh tế nhờ tiến trình tiêm vaccine ngừa Covid-19 được triển khai rộng rãi đang tác động tích cực tới nhu cầu hàng hóa của các thị trường này.
Tuy nhiên, làn sóng dịch Covid-19 lần thứ 4 trong nước, đặc biệt là tại TP.HCM và các tỉnh thành phía Nam đang ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động sản xuất, xuất khẩu từ tháng 7 đến nay. Do đó, tăng trưởng sản xuất và xuất nhập khẩu trong thời gian tới sẽ phụ thuộc rất lớn vào kết quả của việc kiểm soát dịch bệnh cũng như tiến trình tiêm chủng vaccine ngừa Covid-19 trên toàn quốc.
Hơn nữa, quá trình thông quan xuất khẩu hàng hóa sang thị trường Trung Quốc, đặc biệt là các mặt hàng nông, thủy sản thời gian gần đây gặp khá nhiều bất lợi khi nước này liên tục tăng cường các biện pháp kiểm soát dịch bệnh tại các cửa khẩu biên giới phía Bắc.
Vì thế, để thúc đẩy xuất khẩu, kiềm chế nhập siêu trong thời gian tới, Bộ Công Thương sẽ triển khai đồng loạt các giải pháp. Trong đó, củng cố và mở rộng thị trường xuất khẩu, tận dụng tối đa lợi thế từ các Hiệp định thương mại tự do đã có hiệu lực; đa dạng hóa thị trường xuất khẩu, nhập khẩu; Đa dạng hoá cơ cấu sản phẩm xuất khẩu, nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm xuất khẩu, phát triển thương hiệu.
Trước mắt, tận dụng sự phục hồi của thị trường Mỹ và Châu âu để đẩy mạnh xuất khẩu các mặt hàng Việt Nam có thế mạnh như dệt may, da giày, điện tử, đồ gỗ, thủy sản… đặc biệt là phục vụ dịp mua sắm gia tăng cuối năm.
Bên cạnh đó, tăng cường cung cấp thông tin thị trường, các hoạt động xúc tiến thương mại đến các thị trường còn dư địa phát triển như các thị trường Đông Âu, Bắc Âu, Mỹ La tinh…
Đẩy mạnh công tác đơn giản hóa thủ tục hành chính. Trong đó, tập trung triển khai các thủ tục hành chính về lĩnh vực xuất nhập khẩu theo Cơ chế một cửa quốc gia, một cửa ASEAN... để tạo thuận lợi cho Hiệp hội và doanh nghiệp tham gia hoạt động xuất nhập khẩu.
Tiếp tục đổi mới, tổ chức các chương trình xúc tiến thương mại, kết nối cung cầu cả trong và ngoài nước trên môi trường trực tuyến và dựa trên những nền tảng mới. Tận dụng tối đa cơ hội của các Hiệp định thương mại tự để đẩy mạnh xuất khẩu.
Tăng cường phối hợp với Bộ Giao thông vận tải và các địa phương để thúc đẩy phát triển dịch vụ logistics, giảm các chi phí khai thác hạ tầng vận tải, chi phí logistics trong các hoạt động xuất nhập khẩu và lưu thông hàng hóa trong nước nhằm hỗ trợ, kết nối,vận chuyển, bốc xếp, bảo quản hàng hóa nông sản, thủy sản, sản phẩm chăn nuôi để tạo thuận lợi và tăng hiệu quả xuất khẩu.




Trước Quy định chống mất rừng của EU (EUDR), ngành cao su Việt Nam đang chủ động chuyển dịch từ “chờ đợi” sang hành động quyết liệt. Việc đẩy mạnh chuẩn hóa vùng trồng và truy xuất nguồn gốc không chỉ giúp vượt qua rào cản kỹ thuật mà còn là cơ hội để bứt phá giá trị tại thị trường EU.
Trong 6 tháng đầu năm 2026, nhập khẩu nhiều loại vật tư đầu vào phục vụ sản xuất nông nghiệp giảm đáng kể so với cùng kỳ năm trước do nhu cầu thu hẹp, trong đó phân bón giảm gần 35%, thức ăn gia súc và nguyên liệu giảm 5,6%. Dù giá ngô và đậu tương thế giới hạ nhiệt, giá vật tư trong nước vẫn neo ở mức cao. Đáng chú ý, giá cám gạo nội địa tiếp tục tăng vì nguồn cung hạn chế…
Các viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp có kinh nghiệm trong lĩnh vực điện mặt trời được mời tham gia xây dựng, triển khai các mô hình thí điểm điện mặt trời nông nghiệp (Agri-PV) tại Việt Nam. Hồ sơ đăng ký tham gia chương trình được tiếp nhận đến hết ngày 15/7/2026...
Một khu công nghiệp sinh thái thực chất phải được định hình ngay từ khâu quy hoạch, trước khi viên gạch đầu tiên được đặt xuống, chứ không phải "lớp sơn phủ" lên hạ tầng đã hoàn thiện...
Sự chia sẻ lớn hơn của chính sách tài khóa; các công cụ điều tiết, đảm bảo sự vận hành của thị trường, lưu thông hàng hóa; chính sách về an ninh năng lượng, dự trữ năng lượng... là những giải pháp được đề xuất để giảm áp lực lạm phát từ nay đến cuối năm.
Bước vào 6 tháng cuối năm 2026, kinh tế Việt Nam đứng trước cơ hội bứt phá lớn khi tăng trưởng GDP nửa đầu năm đạt mức ấn tượng 8,18%. Tuy nhiên, để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai chữ số đầy tham vọng, nền kinh tế phải đối mặt với không ít áp lực từ xu hướng nhập siêu, áp lực lạm phát và điểm nghẽn giải ngân đầu tư công.
Việt Nam đang từng bước làm chủ công nghệ lò phản ứng mô-đun nhỏ; phát triển các dược chất phóng xạ thế hệ mới để chẩn đoán và điều trị ung thư, hướng đến phục vụ cộng đồng, người bệnh... Đó là hai trong số rất nhiều hạng mục mà Việt Nam đang nỗ lực trong công cuộc xây dựng nền công nghiệp hạt nhân hiện đại.