Phó Thủ tướng Bùi Thanh Sơn vừa ký Quyết định số 458/QĐ-TTg phê duyệt Đề án cập nhật triển khai Tuyên bố chính trị thiết lập quan hệ đối tác chuyển đổi năng lượng công bằng (Tuyên bố JETP).
Mục tiêu tổng quát của Đề án là triển khai Tuyên bố JETP gắn với thực hiện Nghị quyết số 70-NQ/TW và Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 (Quy hoạch điện 8). Đề án góp phần bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, cung cấp đủ điện cho phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh và đời sống nhân dân.
Đề án cũng chủ động thực hiện lộ trình chuyển đổi năng lượng công bằng, thúc đẩy phát triển năng lượng tái tạo, năng lượng mới, sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả, góp phần thực hiện mục tiêu phát thải ròng bằng “0” của Việt Nam, trên cơ sở phù hợp với điều kiện thực tế và lợi ích quốc gia, dân tộc.
Đề án phấn đấu giai đoạn từ nay đến năm 2030 hoàn thiện hệ thống thể chế và chính sách để tạo ra môi trường đầu tư thông thoáng, thu hút nguồn lực cho điện gió ngoài khơi, điện mặt trời và các hệ thống lưu trữ năng lượng.
Các tiêu chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường và phát thải khí nhà kính cho những công nghệ tiên tiến như hydro xanh hay amoniac xanh sẽ được nghiên cứu xây dựng để đảm bảo tính khả thi và tương thích quốc tế.
Việt Nam cũng sẽ chủ động phối hợp với các đối tác toàn cầu để nâng cấp hạ tầng truyền tải, xây dựng hệ thống điện thông minh có khả năng tích hợp nguồn năng lượng tái tạo quy mô lớn.
Đi đôi với phát triển hạ tầng, Đề án phấn đấu đến 2030 hình thành 2 trung tâm công nghiệp, dịch vụ năng lượng tái tạo tại các khu vực có nhiều tiềm năng.
Đồng thời thực hiện chuyển đổi năng lượng công bằng gắn với tạo việc làm mới, đào tạo và đào tạo lại lao động, bảo đảm an sinh xã hội cho các nhóm dễ bị tổn thương; khuyến khích người dân, doanh nghiệp tham gia vào các chương trình sử dụng năng lượng sạch, tiết kiệm và hiệu quả.
Về các chỉ tiêu kỹ thuật, chủ động phát triển mạnh mẽ năng lượng tái tạo, phấn đấu nâng tỷ lệ nguồn năng lượng tái tạo đạt khoảng 47% tổng công suất điện, tổng công suất nhiệt điện than phấn đấu không vượt quá từ 30,2 GW đến 31,055 GW.
Kiểm soát phát thải khí nhà kính từ ngành điện ở mức đỉnh không quá 170 triệu tấn CO2 tương đương, phù hợp với mục tiêu bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia và được thực hiện linh hoạt trên cơ sở có sự hỗ trợ thực chất, hiệu quả của các đối tác quốc tế trong khuôn khổ JETP.
Theo Đề án, giai đoạn sau năm 2030, tiếp tục hoàn thiện hệ thống chính sách để hỗ trợ chuyển đổi năng lượng, các hoạt động sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, năng lượng sạch trở thành thường xuyên, liên tục của các tổ chức, doanh nghiệp, cộng đồng và toàn dân với sự dẫn dắt của Nhà nước và hỗ trợ của quốc tế.
Thúc đẩy phát triển ngành công nghiệp năng lượng tái tạo, năng lượng mới, công nghiệp chế tạo thiết bị, lưu trữ điện, hydrogen xanh, amoniac xanh.
Nghiên cứu áp dụng công nghệ thu hồi, hấp thụ, lưu trữ và sử dụng CO2, nâng cao năng lực nghiên cứu, đổi mới sáng tạo, chủ động tiếp nhận, làm chủ công nghệ tiên tiến phục vụ quá trình chuyển đổi năng lượng.
Đề án nêu rõ: không xây mới và dừng hoạt động các nhà máy nhiệt điện than có tuổi thọ trên 40 năm nếu không thể chuyển đổi nhiên liệu, thực hiện mạnh mẽ các biện pháp giảm phát thải khí nhà kính hướng tới năm 2050 đạt mức phát thải từ năng lượng không vượt quá 101 triệu tấn CO2 tương đương, tỷ lệ năng lượng tái tạo đạt khoảng 80 - 85% tổng năng lượng sơ cấp.
Với sự hỗ trợ của các đối tác quốc tế, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, hình thành đội ngũ chuyên gia, kỹ sư giỏi trong lĩnh vực năng lượng tái tạo và năng lượng mới, góp phần đưa Việt Nam trở thành trung tâm năng lượng tái tạo của khu vực, đồng thời bảo đảm công bằng xã hội, hài hòa mục tiêu giảm phát thải, tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường.
Để đạt được các mục tiêu đề ra, Đề án tập trung vào mười nhóm nhiệm vụ trọng tâm, xuyên suốt. Trong đó, đáng chú ý là hoàn thiện thể chế, chính sách thúc đẩy chuyển đổi năng lượng; thúc đẩy chuyển đổi điện than sang năng lượng sạch. Phát triển hệ sinh thái công nghiệp và dịch vụ về năng lượng tái tạo. Nâng cấp hệ thống truyền tải và phân phối điện, đẩy nhanh lộ trình xây dựng hệ thống điện thông minh và phát triển hệ thống lưu trữ năng lượng...
Mục tiêu xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt 100 tỷ USD không chỉ đòi hỏi tăng kim ngạch, mà còn kiểm chứng khả năng chuyển các Nghị quyết về thể chế, công nghệ... thành năng lực cạnh tranh.
Sự hiện diện của ESFLO MKTING, S.A. de C.V. tại VIS 2026 cho thấy Việt Nam đang trở thành điểm đến ưu tiên của các nhà nhập khẩu Mexico, trong bối cảnh thương mại song phương tăng trưởng mạnh nhờ Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP)...
Đóng góp quan trọng nhất mà VIFC-HCMC có thể mang lại cho tăng trưởng kinh tế quốc gia không đơn thuần là thu hút thêm dòng vốn, mà trở thành nền tảng đáng tin cậy để dòng vốn khu vực và toàn cầu lưu chuyển qua đó...
Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang hoàn thiện dự thảo Nghị quyết của Chính phủ nhằm đơn giản hóa thủ tục cấp mã số vùng trồng và mã số cơ sở đóng gói theo hướng chuyển từ tiền kiểm sang quản lý bằng dữ liệu và hậu kiểm. Mục tiêu là rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ, giảm chi phí cho doanh nghiệp nhưng vẫn bảo đảm đáp ứng yêu cầu của các thị trường nhập khẩu...
Bức tranh tổng thể kinh tế năm 2026 cho thấy xu hướng chuyển dịch rõ rệt giữa khu vực Doanh nghiệp và Kinh tế cá thể. Ở khu vực Doanh nghiệp tăng trưởng nhanh về số lượng, thu hút và phát triển lực lượng lao động lớn thì ở khu vực Kinh tế cá thể tốc độ tăng quy mô lại có xu hướng chậm lại, tỷ trọng lao động có sự dịch chuyển.
Dưới tác động của biến đối khi hậu, tình trạng thời tiết, thiên tai diễn biến bất thường, cực đoan hơn, đòi hỏi công tác dự báo, cảnh báo sớm, giúp các ngành, địa phương và người dân chủ động ứng phó, giảm thiểu thiệt hại. Đặc biệt với các hiện tượng khí hậu như El Nino, ông Hoàng Đức Cường cho rằng khi nhận diện sớm nguy cơ, dự báo cảnh báo sớm sẽ giúp có thời gian chủ động lên kế hoạch sớm, có các giải pháp ứng phó, góp phần giảm thiểu ảnh hưởng, tác động đến hoạt động sản xuất và đời sống sinh hoạt của người dân.
Bức tranh tổng thể kinh tế năm 2026 cho thấy xu hướng chuyển dịch rõ rệt giữa khu vực Doanh nghiệp và Kinh tế cá thể. Ở khu vực Doanh nghiệp tăng trưởng nhanh về số lượng, thu hút và phát triển lực lượng lao động lớn thì ở khu vực Kinh tế cá thể tốc độ tăng quy mô lại có xu hướng chậm lại, tỷ trọng lao động có sự dịch chuyển.