“Đô thị thông minh không chỉ là công nghệ, mà là một hệ sinh thái thông minh— nơi công nghệ phục vụ con người, và người dân góp phần kiến tạo chính không gian sống của họ”.
Sáng 17/6, Trường đại học kinh tế TP.HCM (UEH) phối hợp Viện Nghiên cứu phát triển Thành phố Hồ Chí Minh (HIDS) đã tổ chức hội thảo khoa học với chuyên đề “Tầm nhìn quy hoạch và các động lực phát triển kinh tế TP.HCM mới”.
Hội thảo diễn ra trong bối cảnh Nghị quyết số 60-NQ/TW về việc sắp xếp lại các đơn vị hành chính đã chính thức được triển khai. trong đó, hợp nhất Thành phố Hồ Chí Minh, tỉnh Bình Dương và tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu thành một đơn vị hành chính mới.
GIẢI BÀI TOÁN QUY HOẠCH CHO “TP.HCM MỚI”
Phát biểu tại hội thảo, GS.TS Sử Đình Thành, Giám đốc Trường đại học kinh tế TP.HCM, nhận định: “Năm 2025 sẽ là bước ngoặt trong tiến trình tái cấu trúc đơn vị hành chính cấp tỉnh – mở ra cơ hội hình thành một “TP.HCM mới” với mô hình phát triển hiện đại, tầm nhìn chiến lược và động lực tăng trưởng khác biệt”.
Theo đó, “TP.HCM mới" được kỳ vọng trở thành siêu đô thị đa trung tâm, trung tâm kinh tế - tài chính - công nghệ - logistics thông minh hàng đầu Đông Nam Á. Để hiện thực hóa tầm nhìn này, cần có chiến lược quy hoạch bài bản, dài hạn, cùng sự đồng hành của giới chuyên gia và cộng đồng. Chính vì thế, để giải bài toán cho thành phố ở giai đoạn đầu của quá trình sáp nhập sắp tới, hội thảo sẽ tập trung vào năm trọng tâm then chốt sau:
Thứ nhất, tăng trưởng kinh tế và định vị TP.HCM mới, hướng tới tốc độ tăng trưởng từ 8–10% nhờ hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và logistics xanh.
Thứ hai, quy hoạch và phát triển không gian – hạ tầng tích hợp, với trọng tâm là siêu đô thị đa trung tâm, đô thị vệ tinh, không gian ngầm, đô thị ven sông và liên kết vùng.
Thứ ba, phát triển giao thông và dự án hạ tầng trọng điểm, đột phá vào metro, đường vành đai, cao tốc, đường thủy và kết nối đa phương thức.
Thứ tư, phát triển chuỗi logistics cảng biển thông minh, tận dụng lợi thế cảng trung chuyển Cần Giờ, tăng cường kết nối vùng và quốc tế, hướng tới chuẩn mực toàn cầu.
Thứ năm, phát huy vai trò xã hội và cộng đồng, với sự tham gia đồng kiến tạo của người dân, doanh nghiệp, giới học thuật trong xây dựng đô thị hiện đại, đáng sống, phù hợp với kỷ nguyên số và phát triển bền vững.
TẦM NHÌN QUỐC GIA MỚI CHO SIÊU ĐÔ THỊ TP.HCM
Theo TS.KTS Lê Quốc Hùng, Phó Viện trưởng Viện Quy hoạch đô thị và nông thôn quốc gia (Bộ Xây dựng), Việt Nam đang bước qua giai đoạn “dân số vàng” và đặt mục tiêu trở thành quốc gia thu nhập cao vào năm 2045. Để đạt được điều đó, cần duy trì tốc độ tăng trưởng GDP hai con số trong 10–20 năm tới, điều này sẽ đặt ra một thử thách lớn và có thể sẽ phải đối mặt với “cú sốc kép” của các cuộc cách mạng công nghệ và áp lực phát triển bền vững.
Với tầm nhìn đến 2045, siêu đô thị TP.HCM – sau khi sáp nhập với Bình Dương và Bà Rịa – Vũng Tàu – dự kiến đạt quy mô dân số 18–20 triệu người và đóng góp tới 30–40% GDP cả nước đóng góp tới 30–40% GDP cả nước – vượt qua tỷ lệ hiện tại khoảng 20% và tiệm cận các đô thị lớn như Thượng Hải hay Bangkok.
Tuy nhiên, song song với đó có ba thách thức lớn đang đặt ra là: (1) quy hoạch không gian tích hợp, (2) mô hình quản trị đô thị hiệu quả, và (3) phát triển đô thị bền vững. Một thách thức khác mang tính địa phương là sự khác biệt về đặc điểm phát triển - công nghiệp của tỉnh Bình Dương, dầu khí-cảng biển-du lịch của Bà Rịa – Vũng Tàu và kinh tế-tài chính ở TP.HCM – đòi hỏi một mô hình quản lý linh hoạt, tích hợp.
Ngoài ra, ông cũng đề xuất giải pháp xây dựng các tiểu vùng trung gian đi kèm với nhân sự chuyên trách theo lĩnh vực để điều phối thay thế cấp quận/huyện truyền thống – nay bị loại bỏ trong đơn vị hành chính mới. Các tiểu vùng này có thể theo địa lý, chức năng kinh tế, hoặc phân bố giao thông, kết hợp với ứng dụng công nghệ như GIS và Big Data trong quản trị đô thị.
Theo TS.Hùng, bài toán lớn nhất cần giải sớm là hạ tầng giao thông, tiếp theo là môi trường. Việt Nam có thể học hỏi mô hình “đô thị vùng” từ Pháp. TS.Hùng nhấn mạnh để làm được cần phải có tư duy mở về tách bạch cấp hành chính và cấp quy hoạch. Bởi, việc tách rời hai cấp độ này là điều kiện tiên quyết để thiết kế quy hoạch đô thị hiệu quả trong bối cảnh hành chính tinh gọn, giúp thành phố vận hành trơn tru và thích ứng tốt hơn với các chiến lược phát triển dài hạn.
MÔ HÌNH MỚI CHO ĐÔ THỊ THÔNG MINH
Các chuyên gia cho rằng để TP.HCM mới phát triển bền vững và giữ vững vai trò đầu tàu kinh tế cả nước, một trong những nhiệm vụ cấp thiết là tháo gỡ điểm nghẽn trong chuỗi cung ứng. Thành phố cần đẩy mạnh đầu tư hệ thống cảng cạn (ICD), thúc đẩy logistics số và xây dựng mạng lưới cảng biển kết nối đa phương thức, mở rộng từ nội đô ra các vùng kinh tế trọng điểm.
“Đô thị thông minh không chỉ là công nghệ, mà là một hệ sinh thái thông minh— nơi công nghệ phục vụ con người, và người dân góp phần kiến tạo chính không gian sống của họ”.
Đặc biệt, việc mở rộng không gian phát triển ra biển – trọng tâm là khu vực Cái Mép – Thị Vải – sẽ mở ra cơ hội đưa TP.HCM trở thành trung tâm logistics biển, năng lượng, cảng công nghiệp và du lịch đường sông chiến lược trong khu vực.
Song song đó, TP.HCM cần xây dựng Khu trung tâm thương mại – tài chính (CBD) gắn với mô hình Trung tâm Tài chính quốc tế (IFC), học hỏi kinh nghiệm từ các đô thị toàn cầu như Tokyo, Singapore và Kuala Lumpur. Để hiện thực hóa, thành phố cần phát triển đồng bộ hệ sinh thái dịch vụ, hạ tầng giao thông, nhà ở và chất lượng sống – nền tảng để định hình một trung tâm tài chính hiện đại, có sức cạnh tranh trong khu vực và trên thế giới.
Đối với PGS.TS Trịnh Tú Anh, Viện trưởng Viện Đô thị Thông minh và Quản lý của trường đại học kinh tế TP.HCM (UEH-ISCM), để hướng tới phát triển TP.HCM thành một đô thị thông minh thực thụ trong bối cảnh tái cấu trúc đơn vị hành chính, thành phố cần xây dựng một “cộng đồng nền tảng đồng sáng tạo” – nơi các bên cùng tham gia chia sẻ dữ liệu, phối hợp hành động và đồng kiến tạo giải pháp đổi mới.
Bà nhấn mạnh, yếu tố “đồng sáng tạo” không chỉ là sự hợp tác giữa chính quyền, doanh nghiệp và người dân, mà còn bao gồm cả sự phối hợp giữa các nhà nghiên cứu, tổ chức xã hội và giới công nghệ nhằm phát triển những chính sách linh hoạt và dữ liệu mở phục vụ việc quản lý đô thị hiệu quả hơn.
“Đô thị thông minh không chỉ là công nghệ, mà là một hệ sinh thái thông minh— nơi công nghệ phục vụ con người, và người dân góp phần kiến tạo chính không gian sống của họ.” bà Trịnh Tú Anh giải thích.
Viện trưởng UEH-ISCM cho rằng, để thực sự thông minh, đô thị phải đặt con người ở trung tâm, đồng thời phát triển từ dưới lên thông qua quy hoạch linh hoạt và cộng tác sáng tạo giữa mọi tầng lớp cộng đồng. Cách tiếp cận này mở ra một hành trình dài hơi, nhưng là tiền đề để xây dựng TP.HCM hiện đại, đáng sống và thích ứng tốt với các cú sốc toàn cầu.




Dù Việt Nam tiệm cận mục tiêu bảo hiểm y tế toàn dân với khoảng 95% dân số tham gia, người bệnh vẫn phải gánh vác tới gần 40% chi phí y tế từ “tiền túi”, gấp 4 lần so với mức khuyến nghị của WHO. Vì vậy, giải pháp đột phá cho giai đoạn tiếp theo không nằm ở việc tiếp tục mở rộng độ bao phủ dân số, mà là nâng cao mức độ bảo vệ tài chính thực chất thông qua ứng dụng kinh tế dược học và đánh giá công nghệ y tế...
UBND tỉnh Quảng Ninh chỉ đạo rà soát từng dự án, từng vướng mắc để xử lý dứt điểm, nhất là công tác giải phóng mặt bằng các dự án điện…
Tổng lượng phát thải ròng của Việt Nam liên tục tăng qua các giai đoạn, ước tính lượng phát thải ròng năm 2030 là 927 triệu tấn, năm 2050 là 1.500 triệu tấn. Như vậy, để đạt được mục tiêu Net Zero thì nhu cầu sản xuất và cung ứng, bù trừ tín chỉ carbon là khá lớn.
Theo HSBC, kết quả tăng trưởng GDP 8,18% trong 6 tháng đầu năm phản ánh nền kinh tế Việt Nam đang có thêm nhiều động lực tăng trưởng, trong đó FDI tiếp tục là "lá phiếu tín nhiệm" của nhà đầu tư quốc tế. Dù vậy, áp lực lạm phát, tỷ giá và lãi suất vẫn là những biến số đáng lưu ý trong những tháng cuối năm...
Trong các thương vụ huy động vốn, IPO hay mở rộng chuỗi cung ứng quốc tế, thông tin phát triển bền vững đang dần trở thành một phần của đối thoại tài chính. Với sự ra đời của IFRS S1 và IFRS S2, doanh nghiệp không chỉ được yêu cầu công bố nhiều thông tin hơn, mà còn phải chứng minh các rủi ro và cơ hội về phát triển bền vững có thể tác động như thế nào đến triển vọng kinh doanh và khả năng tiếp cận vốn…
Tổng lượng phát thải ròng của Việt Nam liên tục tăng qua các giai đoạn, ước tính lượng phát thải ròng năm 2030 là 927 triệu tấn, năm 2050 là 1.500 triệu tấn. Như vậy, để đạt được mục tiêu Net Zero thì nhu cầu sản xuất và cung ứng, bù trừ tín chỉ carbon là khá lớn.
Tổng lượng phát thải ròng của Việt Nam liên tục tăng qua các giai đoạn, ước tính lượng phát thải ròng năm 2030 là 927 triệu tấn, năm 2050 là 1.500 triệu tấn. Như vậy, để đạt được mục tiêu Net Zero thì nhu cầu sản xuất và cung ứng, bù trừ tín chỉ carbon là khá lớn.