Buổi sáng, con đường đất dẫn vào xã Thượng Ninh vẫn còn đẫm sương. Hai bên, những triền đồi xanh mướt nối nhau, từng hàng mắc ca vươn cao, thẳng tắp. Mùi đất mới, mùi hoa mắc ca thoang thoảng trong gió. Trên đồi, anh Đỗ Trọng Học, Giám đốc Hợp tác xã mắc ca Thành Phát, đang cùng vợ tất bật thu gom những giỏ quả đến vừa thu hoạch. “Năm nay được mùa rồi, trái nhiều, hạt chắc, giá cũng tốt hơn năm trước”, anh Học cười, giọng đầy tự hào.
Ít ai biết, cách đây hơn mười năm, chính người đàn ông này từng là một giáo viên hợp đồng với đồng lương ít ỏi. Năm 2009, khi vừa ra trường, cả anh và chị Phạm Thị Thu, vợ anh, đều phải bươn chải với nghề dạy học và làm thêm đủ nghề để nuôi con nhỏ. “Cuộc sống khi ấy chật vật lắm. Nhưng tôi luôn nghĩ, phải tìm một hướng đi mới, chứ không thể mãi trông vào đồng lương giáo viên hợp đồng”, anh kể.
Một lần tình cờ biết đến cây mắc ca – loài cây được mệnh danh là “tỷ đô” ở Tây Nguyên, anh Học mạnh dạn nghĩ: “Sao mình không thử?”. Được gia đình ủng hộ, năm 2010, anh chị trồng thử 350 cây trên 1,5ha đất đồi. Những ngày đầu, hai vợ chồng tự gùi nước, ủ phân, chăm từng gốc cây. Thiếu kinh nghiệm, có vụ mất đến cả trăm cây, nhưng họ không nản. “Đêm nào cũng mày mò đọc tài liệu, hỏi kỹ sư, rồi đi học hỏi ở Nghệ An, Lâm Đồng... Cứ thế, dần dần cũng hiểu cây, hiểu đất”, anh Học nhớ lại.
Rồi những cây mắc ca đầu tiên ra hoa rồi kết trái. “Hạnh phúc lắm, như thấy con mình lớn vậy”, chị Thu cười rạng rỡ. Từ đó, anh chị mở rộng diện tích lên 5ha, trồng hơn 1.500 cây, bước vào giai đoạn kinh doanh ổn định. Riêng năm 2024, vườn mắc ca của gia đình mang lại doanh thu khoảng 400 triệu đồng, lợi nhuận 300 triệu đồng, chưa kể 90 triệu đồng từ mật ong và 150 triệu đồng từ chè búp.
Không giữ riêng thành quả, vợ chồng anh Học tích cực chia sẻ kinh nghiệm cho bà con trong xã. “Ban đầu nhiều người nghi ngờ, họ nói mắc ca chỉ hợp ở Tây Nguyên thôi. Nhưng khi thấy vườn mình xanh tốt, có thu nhập ổn định, họ bắt đầu tin”, anh kể.
Từ vài hộ trồng thử, đến nay, Hợp tác xã Thành Phát đã có 45 thành viên, với 70ha mắc ca phủ xanh đồi núi Thượng Ninh. Không chỉ trồng, hợp tác xã còn chế biến sâu, đầu tư máy sấy, máy tách vỏ, máy lọc quả để nâng cao chất lượng sản phẩm. Hạt mắc ca Thành Phát hiện đạt chuẩn OCOP 3 sao, được tiêu thụ tại nhiều siêu thị, sàn thương mại điện tử và được thị trường đón nhận tích cực.
Anh Học cho biết: “Sắp tới, chúng tôi phấn đấu đưa sản phẩm mắc ca lên OCOP 4 sao, đồng thời phát triển thêm các sản phẩm chế biến như tinh dầu, mật ong hoa mắc ca, rượu ngâm hạt mắc ca... hướng đến thị trường cao cấp hơn”.
Ông Lê Đức Tuấn, Chủ tịch UBND xã Thượng Ninh, cho biết: “Hợp tác xã Thành Phát là đơn vị tiên phong đưa cây mắc ca về địa phương. Giờ đây, cây mắc ca không chỉ giúp người dân ổn định kinh tế mà còn góp phần bảo vệ đất rừng, phủ xanh đồi trọc”.
Theo ông Tuấn, sản phẩm của Hợp tác xã Thành Phát được sản xuất theo quy trình khép kín, từ khâu chọn giống, chăm sóc bằng phân hữu cơ tự chế đến thu hoạch, sấy khô và đóng gói đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm. “Hợp tác xã không chỉ làm kinh tế, mà còn tạo việc làm cho hàng chục lao động thường xuyên, giúp nhiều hộ nghèo, cận nghèo có thu nhập ổn định, từng bước thoát nghèo bền vững”, ông nói.
Không chỉ dừng lại ở trồng và chế biến, hợp tác xã còn mở rộng vùng nguyên liệu sang các xã lân cận, vận động người dân chuyển đổi cây trồng phù hợp với điều kiện địa phương. Hình ảnh những đồi mắc ca nối tiếp nhau giờ đây đã trở thành biểu tượng mới của Thượng Ninh – vùng đất từng chỉ quen với cây mía, cây keo.
Buổi chiều, khi mặt trời ngả xuống phía sau rặng đồi, những giỏ mắc ca nặng trĩu được chất lên xe chờ mang về xưởng. Anh Học lau giọt mồ hôi trên trán, mỉm cười nhìn khu vườn của mình. “Ngày trước, tôi chỉ mong đủ ăn. Giờ thì muốn cùng bà con làm giàu từ chính mảnh đất này”, anh nói chậm rãi, ánh mắt ánh lên niềm tin.




Trước Quy định chống mất rừng của EU (EUDR), ngành cao su Việt Nam đang chủ động chuyển dịch từ “chờ đợi” sang hành động quyết liệt. Việc đẩy mạnh chuẩn hóa vùng trồng và truy xuất nguồn gốc không chỉ giúp vượt qua rào cản kỹ thuật mà còn là cơ hội để bứt phá giá trị tại thị trường EU.
Trong 6 tháng đầu năm 2026, nhập khẩu nhiều loại vật tư đầu vào phục vụ sản xuất nông nghiệp giảm đáng kể so với cùng kỳ năm trước do nhu cầu thu hẹp, trong đó phân bón giảm gần 35%, thức ăn gia súc và nguyên liệu giảm 5,6%. Dù giá ngô và đậu tương thế giới hạ nhiệt, giá vật tư trong nước vẫn neo ở mức cao. Đáng chú ý, giá cám gạo nội địa tiếp tục tăng vì nguồn cung hạn chế…
Trong 6 tháng đầu năm 2026, ngành thủy sản tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực với giá trị tăng thêm của GDP đạt 4,88%, đóng góp 1,56% vào GDP cả nước. Nuôi trồng thủy sản tiếp tục là động lực chính nhờ ứng dụng công nghệ cao, thị trường tiêu thụ ổn định và xuất khẩu khởi sắc, trong khi khai thác thủy sản vẫn duy trì tăng trưởng trong bối cảnh hướng đến phát triển bền vững...
Theo Cục Thống kê (Bộ Tài chính), trong 6 tháng đầu năm 2026, GDP của khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,87%, đóng góp 5,66% vào tổng GDP của cả nước. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, ngành nông nghiệp cũng đối mặt với nhiều thách thức cần giải quyết để duy trì đà phát triển bền vững...
Thị trường nông sản trong nước và thế giới tháng 6/2026 ghi nhận nhiều biến động trái chiều. Giá lúa, gạo, cà phê, cao su và một số loại trái cây tăng ở nhiều phân khúc, trong khi hồ tiêu, lợn hơi, thủy sản nguyên liệu và xoài giảm do áp lực nguồn cung hoặc nhu cầu tiêu thụ suy yếu...
Bước vào 6 tháng cuối năm 2026, kinh tế Việt Nam đứng trước cơ hội bứt phá lớn khi tăng trưởng GDP nửa đầu năm đạt mức ấn tượng 8,18%. Tuy nhiên, để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai chữ số đầy tham vọng, nền kinh tế phải đối mặt với không ít áp lực từ xu hướng nhập siêu, áp lực lạm phát và điểm nghẽn giải ngân đầu tư công.
Sự chia sẻ lớn hơn của chính sách tài khóa; các công cụ điều tiết, đảm bảo sự vận hành của thị trường, lưu thông hàng hóa; chính sách về an ninh năng lượng, dự trữ năng lượng... là những giải pháp được đề xuất để giảm áp lực lạm phát từ nay đến cuối năm.