Trong phần lớn năm 2025, mặt bằng lãi suất huy động tương đối bình ổn so với năm 2024. Tuy nhiên, vào thời điểm cuối năm, lãi suất huy động kỳ hạn 12 tháng tại một số ngân hàng bắt đầu nhích lên trong bối cảnh cạnh tranh nguồn vốn gia tăng và áp lực thanh khoản đè nặng.
Trong 10 tháng đầu năm 2025, thanh khoản hệ thống ngân hàng duy trì trạng thái tương đối ổn định, chủ yếu nhờ sự điều tiết linh hoạt của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) thông qua các công cụ thị trường mở (OMO) và phát hành tín phiếu nhằm hỗ trợ cân đối vốn ngắn hạn trong hệ thống.
Tuy nhiên, từ cuối tháng 11 đến đầu tháng 12/2025, thanh khoản bắt đầu chịu áp lực rõ rệt, thể hiện qua việc lãi suất liên ngân hàng kỳ hạn qua đêm (ON) tăng mạnh lên vùng 7–7,5%. Theo các chuyên gia, diễn biến này xuất phát từ ba nguyên nhân chính.
Một là, tăng trưởng tín dụng duy trì ở mức cao trong khi huy động vốn trên thị trường 1 tăng chậm hơn, làm gia tăng chênh lệch tín dụng – huy động.
Hai là, nhu cầu thanh khoản mang tính mùa vụ thường tăng mạnh từ cuối năm đến sau kỳ nghỉ Tết Nguyên đán.
Ba là, ngân sách nhà nước ghi nhận bội thu 249 nghìn tỷ đồng trong năm 2025 (+19% so với cùng kỳ năm 2024), qua đó làm một phần dòng tiền tạm thời rút khỏi lưu thông, khiến thanh khoản hệ thống bị thu hẹp.
Áp lực thanh khoản cuối năm 2025 càng gia tăng khi dư địa hỗ trợ thông qua kênh OMO không còn thoáng đãng. Tính đến cuối tháng 12/2025, số dư OMO đạt 377 nghìn tỷ đồng – mức cao nhất trong lịch sử, phản ánh quy mô hỗ trợ thanh khoản đã ở mức rất lớn.
Trước bối cảnh đó, Ngân hàng Nhà nước triển khai công cụ hoán đổi ngoại tệ (FX Swap) USD/VND quy mô khoảng 4 - 5 tỷ USD nhằm bổ sung thanh khoản VND trên thị trường liên ngân hàng, đồng thời điều chỉnh tăng lãi suất OMO từ 4% lên 4,5%/năm – lần tăng đầu tiên kể từ tháng 5/2024. Các động thái này cho thấy định hướng điều hành thận trọng, vừa hỗ trợ thanh khoản, vừa kiểm soát áp lực lạm phát và ổn định thị trường tiền tệ.
Từ thực tế trên, các ngân hàng đã đồng loạt điều chỉnh tăng lãi suất huy động từ tháng 10/2025, với mức tăng phổ biến dao động từ 0,2 đến 0,8 điểm phần trăm. Động thái này phản ánh nhu cầu củng cố thanh khoản trong điều kiện tăng trưởng tín dụng duy trì ở mức cao, đồng thời chịu áp lực gia tăng từ nhu cầu vốn phục vụ mùa cao điểm Tết Nguyên đán.
Cụ thể, đến ngày 31/12/2025, lãi suất huy động bình quân kỳ hạn 1-3 tháng của nhóm ngân hàng thương mại nhà nước tăng 0,38 điểm phần trăm so với đầu năm; nhóm ngân hàng thương mại cổ phần lớn (MBB, ACB, Techcombank, VPBank) tăng 0,74 điểm phần trăm; nhóm ngân hàng nhỏ và vừa tăng 0,61 điểm phần trăm.
Với tiền gửi kỳ hạn 6–9 tháng, lãi suất huy động của nhóm ngân hàng thương mại Nhà nước tăng 0,48 điểm phần trăm; ngân hàng thương mại lớn tăng 0,79 điểm phần trăm; ngân hàng thương mại nhỏ và vừa tăng 0,58 điểm phần trăm.
Đà tăng bình quân của lãi suất huy động kỳ hạn 12 tháng nhìn chung không có sự chênh lệch lớn giữa các nhóm ngân hàng, chủ yếu ở mức 0,5 điểm phần trăm trong năm 2025.
Dù lãi suất huy động nhích tăng nhưng lãi suất cho vay 12 tháng bình quân của các ngân hàng thương mại vẫn duy trì quanh mức 8,9%/năm, đi ngang trong vòng hơn một năm trở lại đây.
Giới phân tích dự báo xu hướng tăng lãi suất huy động sẽ tiếp diễn trong năm 2026, đặc biệt trong nửa đầu năm, khi mặt bằng lãi suất được kỳ vọng tái định vị ở mức cao hơn khoảng 50 - 100 điểm cơ bản so với cuối năm 2025. Động thái này chủ yếu nhằm cải thiện tốc độ tăng trưởng tiền gửi, thu hẹp chênh lệch giữa tăng trưởng huy động và tín dụng, qua đó củng cố nền tảng thanh khoản và hướng tới sự phát triển cân bằng, ổn định của hệ thống ngân hàng.
Theo các chuyên gia, áp lực thanh khoản của hệ thống ngân hàng sẽ tiếp tục duy trì trong giai đoạn đầu năm 2026, xuất phát từ một số yếu tố chính.
Thứ nhất, chênh lệch giữa tăng trưởng tín dụng và huy động trong năm 2025 ở mức tương đối cao (ước khoảng 4% tính đến cuối năm). Dù áp lực giải ngân đầu năm thường không lớn và mặt bằng lãi suất tăng có thể hỗ trợ thu hút tiền gửi, khoảng cách này nhiều khả năng vẫn duy trì ở mức cao trong nửa đầu năm.
Thứ hai, tỷ lệ cho vay trên huy động (LDR) của nhiều ngân hàng đã tiệm cận mức trần 85% theo quy định của Ngân hàng Nhà nước, qua đó gia tăng nhu cầu đẩy mạnh huy động để hạn chế rủi ro thanh khoản. Đồng thời, cơ cấu nguồn vốn vẫn tiềm ẩn rủi ro kỳ hạn khi khoảng 80% vốn huy động là ngắn hạn, trong khi gần 50% dư nợ cho vay thuộc nhóm trung và dài hạn, tạo áp lực tuân thủ tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn.
Thứ ba, nhu cầu tiền mặt của người dân và doanh nghiệp thường gia tăng mạnh trong giai đoạn cận Tết Nguyên đán, khiến dòng tiền có xu hướng rút khỏi hệ thống ngân hàng.
Bên cạnh đó, lượng ngoại hối bán kỳ hạn quy mô khoảng 4–5 tỷ USD trong giai đoạn cuối quý III và đầu quý IV/2025, nếu được các ngân hàng thương mại thực hiện tất toán hợp đồng mua kỳ hạn từ Ngân hàng Nhà nước, có thể tạo thêm áp lực thanh khoản trong khoảng tháng 2–4/2026.
Thứ tư, lãi suất trên thị trường liên ngân hàng (thị trường 2) được dự báo duy trì ở mức trung bình đến trung bình cao nhằm đảm bảo chênh lệch lãi suất VND–USD ở mức dương, qua đó hỗ trợ ổn định tỷ giá. Điều này phần nào làm gia tăng chi phí vốn ngắn hạn của hệ thống.
Sang nửa cuối năm 2026, áp lực thanh khoản được kỳ vọng sẽ dần giảm bớt nhờ một số yếu tố hỗ trợ đồng thời: (i) mặt bằng lãi suất huy động tăng trong nửa đầu năm có thể giúp cải thiện rõ nét tăng trưởng tiền gửi, qua đó củng cố nguồn vốn đầu vào; (ii) tiến độ giải ngân đầu tư công được đẩy mạnh sẽ góp phần đưa dòng tiền quay trở lại hệ thống ngân hàng, cải thiện thanh khoản; (iii) tăng trưởng tín dụng năm 2026 được định hướng ở mức khoảng 15%, thấp hơn so với năm 2025, cùng với chủ trương kiểm soát chặt dòng vốn vào các lĩnh vực rủi ro, đặc biệt là bất động sản, sẽ góp phần giảm áp lực mở rộng tín dụng quá mức <......>
Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 9-2026 phát hành ngày 02/03/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:
Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-9-2026.html




Trong nửa đầu tháng 7/2026, giá mua, bán vàng nhẫn 9999 giảm tổng cộng từ 200 nghìn – 1,4 triệu đồng/lượng, tuỳ doanh nghiệp. Tuy nhiên, mức giảm giá tại một doanh nghiệp lên 4 triệu đồng/lượng ở chiều mua và 3,5 triệu đồng/lượng ở chiều bán, cao gấp gần 3 lần so với ngưỡng chung…
Ngân hàng Nhà nước đang nghiên cứu mở rộng đối tượng được vay ngoại tệ, trước mắt xem xét áp dụng với các trường hợp nhập khẩu phục vụ đầu tư. Đây là một trong những nội dung được Thống đốc Phạm Đức Ấn đưa ra khi phản hồi hàng loạt kiến nghị của doanh nghiệp về tiếp cận vốn, tín dụng xanh và phát triển thị trường vốn tại Hội nghị Thường trực Chính phủ với cộng đồng doanh nghiệp sáng 18/7…
Vấn đề thanh khoản hiện nay của hệ thống ngân hàng không nằm ở việc thiếu các công cụ hỗ trợ ngắn hạn, mà ở tốc độ luân chuyển dòng tiền trong nền kinh tế. Khi tín dụng tăng nhanh hơn huy động, chỉ những chính sách giúp dòng tiền thực sự quay trở lại doanh nghiệp và người dân mới có thể cải thiện thanh khoản một cách bền vững...
Trong 5 khó khăn của ngành ngân hàng được Chủ tịch Vietcombank Nguyễn Thanh Tùng nêu tại Hội nghị Thường trực Chính phủ với doanh nghiệp sáng nay (18/7), có tới 4 vấn đề xoay quanh áp lực nguồn vốn. Theo ông, hệ thống ngân hàng sẽ đối mặt nguy cơ thiếu vốn để cung ứng tín dụng cho nền kinh tế, trong bối cảnh nhu cầu đầu tư tăng cao nhằm đáp ứng mục tiêu tăng trưởng 2 con số…
Tính đến hết nửa đầu tháng 7/2026, nhập siêu lũy kế đã vượt mốc 20 tỷ USD đang đặt ra áp lực đáng kể lên cán cân thương mại. Sự suy giảm ở một số nhóm hàng xuất khẩu chủ lực trong khi nhập khẩu đầu vào vẫn tăng cho thấy rủi ro mất cân đối thương mại trong ngắn hạn nếu sức cầu chưa phục hồi đủ mạnh để hấp thụ lượng hàng hóa đầu ra…
Luật Công nghiệp công nghệ số đã mở rộng phạm vi nhân lực công nghệ số chất lượng cao, không chỉ bao gồm người Việt Nam (cả trong và ngoài nước) mà còn cả chuyên gia nước ngoài đáp ứng các tiêu chí do Chính phủ Việt Nam quy định. Để thu hút lực lượng này, luật đưa ra hàng loạt chính sách ưu đãi...
Trong bối cảnh nông nghiệp tuần hoàn và sản xuất hữu cơ trở thành xu hướng, mô hình luân canh tôm càng xanh - lúa tại Thanh Hóa đang cho thấy hiệu quả kép: nâng giá trị trên cùng diện tích đất, giảm chi phí sản xuất và mở ra hướng phát triển bền vững cho vùng chiêm trũng.