bún mắm thạch cuamẹo kinh doanh nhà hàngchiến thuật kéo khách của nhà hàngcua Cà Mau

Chiến tranh Iran có khiến thế giới sớm chạm đỉnh nhu cầu dầu?

Ngọc Trang

05/06/2026, 14:01

Một tín hiệu lạ đang xuất hiện tại Trung Quốc. Nhu cầu dầu của nước này giảm mạnh, nhưng nền kinh tế nước này không rơi vào trạng thái khủng hoảng...

Ảnh minh họa - Ảnh: Getty Images
Ảnh minh họa - Ảnh: Getty Images

Theo ngân hàng JPMorgan, nhu cầu dầu của Trung Quốc đã giảm 9% so với thời điểm trước chiến tranh Iran nổ ra vào cuối tháng 2. Đây là mức giảm rất lớn nếu đặt trong bối cảnh lịch sử. Trong cuộc Đại suy thoái năm 2008, nhu cầu dầu toàn cầu chỉ giảm 2%.

ĐIỀU GÌ ĐANG XẢY RA TẠI TRUNG QUỐC?

Thông thường, nhu cầu dầu giảm tới 9% có thể làm dấy lên lo ngại về một cú sốc kinh tế nghiêm trọng. Nhưng tại Trung Quốc, tình hình lại không diễn ra theo kịch bản đó. Dù phải nhập khẩu khoảng 70% lượng dầu tiêu thụ trong nước và là khách hàng mua dầu lớn nhất của Iran, nước này đến nay vẫn tránh được một cuộc khủng hoảng năng lượng nghiêm trọng.

Điểm đáng chú ý là mức giảm này không đến từ các biện pháp tiết kiệm nhiên liệu mang tính bắt buộc, mà phản ánh sự thay đổi thực sự trong hành vi tiêu dùng. Người dân Trung Quốc đang sử dụng xe điện và giao thông công cộng nhiều hơn, đồng thời giảm các chuyến du lịch quốc tế để lựa chọn những điểm đến gần hơn.

Xu hướng này không chỉ xuất hiện ở Trung Quốc. Tại một số nền kinh tế lớn khác, người tiêu dùng cũng đang thay đổi cách di chuyển, từ sử dụng xe điện nhiều hơn đến giảm các chuyến đi xa. Những thay đổi đó có thể khiến nhu cầu dầu giảm xuống trong dài hạn, ngay cả khi eo biển Hormuz được mở cửa trở lại.

Nói cách khác, thế giới có thể đã sớm chạm “đỉnh nhu cầu dầu” - thời điểm nhu cầu dầu thô đạt mức cao nhất trước khi bắt đầu đi xuống và không còn trở lại các mức đỉnh trước đây.

Theo các nhà phân tích, Trung Quốc tránh được tình trạng thiếu dầu và phải phân phối nhiên liệu theo định mức như một số nước láng giềng nhờ kho dự trữ dầu thô khổng lồ. Đây được xem là bước chuẩn bị có tầm nhìn xa, khi Bắc Kinh đã tích trữ nhiên liệu từ trước khi chiến tranh Iran nổ ra.

Tuy nhiên, dự trữ dầu chỉ là giải pháp tạm thời. Thay đổi đáng chú ý hơn nằm ở phía người tiêu dùng. Khi giá xăng tăng, nhiều người Trung Quốc lựa chọn chuyển sang xe điện.

Theo Bộ Giao thông Trung Quốc, trong những ngày đầu kỳ nghỉ Quốc tế Lao động kéo dài 5 ngày hồi đầu tháng 5, lượng sạc xe điện trên các tuyến cao tốc nước này tăng 55,6% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung cả kỳ nghỉ, gần 1/4 số ô tô lưu thông trên đường cao tốc ở Trung Quốc là xe điện, cao hơn đáng kể so với mức khoảng 19% cùng kỳ năm trước.

Trong khi đó, lượng hành khách đi máy bay trong kỳ nghỉ giảm 5,7%. Tuy nhiên, mức giảm này chủ yếu đến do số lượng chuyến bay quốc tế giảm mạnh. Các chuyến bay trong khu vực tăng 3,5%, còn lượng hành khách đi đường sắt tăng 4,6%.

Diễn biến tương tự cũng đang xuất hiện ở châu Âu. Theo JPMorgan, số ô tô đăng ký mới tại khu vực này đang ở mức cao nhất 7 năm, trong đó xe lai sạc điện là động lực chính. Xe điện cũng trở nên dễ tiếp cận hơn khi giá điện tại châu Âu giảm, nhờ các khoản đầu tư lớn vào điện gió và điện mặt trời trong thập kỷ qua.

Tuy nhiên, xu hướng này không diễn ra ở mọi nơi. Tại Mỹ, doanh số xe điện chưa tăng đáng kể sau khi các nghị sĩ Đảng Cộng hòa tại Quốc hội, với sự ủng hộ của Tổng thống Mỹ Donald Trump, chấm dứt các chính ưu đãi của chính phủ dành cho người mua xe điện.

Dù vậy, theo bà Natasha Kaneva, trưởng bộ phận chiến lược hàng hóa tại JPMorgan, chỉ cần nhu cầu dầu giảm lâu dài ở một số lĩnh vực tại hai nền kinh tế lớn nhất thế giới cũng có thể đủ để khiến nhu cầu toàn cầu không thể phục hồi hoàn toàn.

“Lịch sử cho thấy các cú sốc dầu trong quá khứ thường khiến nhu cầu xăng giảm kéo dài, và lần này có thể cũng không phải ngoại lệ”, bà Kaneva nói với kênh CNN.

BÀI HỌC TỪ CÚ SỐC GIÁ DẦU NĂM 1973

Trước đây, thế giới cũng từng thích ứng với một cuộc khủng hoảng dầu lớn liên quan đến Iran. Đó là lệnh cấm vận dầu năm 1973. Khi đó, các nước Arab sản xuất dầu ngừng xuất khẩu dầu sang Mỹ và một số quốc gia ủng hộ Israel trong chiến tranh Yom Kippur, đồng thời cắt giảm sản lượng. Cú sốc này khiến giá dầu tăng mạnh và kéo theo nhiều thay đổi sâu rộng và lâu dài trong chính sách năng lượng toàn cầu.

Sau cuộc khủng hoảng đó, các nước tiêu thụ dầu lớn đã phối hợp thành lập Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA) nhằm điều phối chính sách năng lượng và thúc đẩy nỗ lực giảm phụ thuộc vào dầu. Trong thập niên 1970, nhiều quốc gia cũng đẩy mạnh phát triển điện hạt nhân, mở rộng giao thông công cộng, đồng thời áp dụng các tiêu chuẩn mới về hiệu suất nhiên liệu của ô tô và khả năng cách nhiệt của nhà ở.

Mỹ và nhiều nước khác cũng xây dựng kho dự trữ dầu chiến lược để ứng phó với các cú sốc nguồn cung trong tương lai. Quốc hội Mỹ cũng thành lập Bộ Năng lượng và giảm giới hạn tốc độ tối đa trên toàn quốc xuống 55 dặm/giờ, tương đương khoảng 88 km/giờ.

Thập niên 1970 vì vậy trở thành giai đoạn nhu cầu nhiên liệu hóa thạch tại Mỹ giảm mạnh nhất trong lịch sử.

“Đó là cú sốc lớn đối với nước Mỹ và chính cú sốc này đã thúc đẩy các nhà hoạch định chính sách tìm cách giảm vai trò của dầu trong nền kinh tế”, ông Jason Bordoff, nhà sáng lập Trung tâm Chính sách Năng lượng Toàn cầu thuộc Đại học Columbia, nhận xét.

Một số cuộc khủng hoảng khác cũng kéo theo những thay đổi lâu dài. Chẳng hạn, đại dịch Covid-19 đã khiến làm việc từ xa trở nên phổ biến hơn. Sự thay đổi này làm giảm nhu cầu đi lại hàng ngày của người lao động một cách bền vững, đồng thời khiến nhu cầu thuê và sử dụng văn phòng cũng thấp hơn trước.

Tương tự, sau khi Nga mở chiến dịch quân sự tại Ukraine vào năm 2022, Liên minh châu Âu (EU) đã ban hành nhiều quy định nhằm giảm mạnh sự phụ thuộc vào khí đốt tự nhiên, đồng thời đẩy nhanh quá trình dịch chuyển sang các nguồn năng lượng tái tạo.

NHU CẦU DẦU LIỆU CÓ THỂ PHỤC HỒI?

Dù xu hướng tiết kiệm dầu và chuyển sang xe điện đang trở nên rõ hơn, mức độ phụ thuộc của thế giới vào dầu vẫn rất lớn. Các nhà máy, nhà máy điện và doanh nghiệp sản xuất nhựa đều cần dầu thô hoặc các sản phẩm từ dầu. Vì vậy, dầu khó có thể sớm biến mất khỏi nền kinh tế toàn cầu.

“Đây là lý do nhu cầu dầu trong ngắn hạn thường khó giảm mạnh. Khi eo biển Hormuz được mở lại, phần lớn máy móc, thiết bị và hệ thống sản xuất vốn phụ thuộc vào dầu vẫn sẽ cần nhiên liệu để vận hành, và nguồn nhiên liệu đó chủ yếu vẫn là nhiên liệu hóa thạch”, ông Alan Gelder, trưởng bộ phận nghiên cứu lọc dầu, hóa chất và thị trường dầu tại công ty Wood Mackenzie, chỉ ra.

Ngoài ra, một phần nhu cầu dầu bị mất đi có thể được bù lại trong vài năm tới, khi các quốc gia mua thêm dầu để tái bổ sung kho dự trữ chiến lược sau khi eo biển Hormuz được mở lại. Theo ông Dan Pickering, nhà sáng lập kiêm giám đốc đầu tư của Pickering Energy Partners, hoạt động này có thể khiến nhu cầu dầu toàn cầu tăng khoảng 1 triệu thùng/ngày từ khi eo biển Hormuz mở lại đến hết năm 2028.

Điều đó có nghĩa là những thay đổi trong hành vi tiêu dùng có thể chưa phản ánh ngay trong dữ liệu thị trường dầu. Có thể phải sau năm 2028, thậm chí sang thập kỷ tới, tác động này mới trở nên rõ ràng hơn.

Tuy nhiên, nếu người tiêu dùng thực sự thay đổi cách đi lại và sử dụng năng lượng, tác động của những thay đổi đó cuối cùng sẽ thể hiện trong nhu cầu dầu. Và một khi các thói quen mới đã hình thành, rất khó để đảo ngược hoàn toàn.

Đọc thêm

Dòng sự kiện

Đảng Cộng sản Việt Nam - Đại hội XIV

Đảng Cộng sản Việt Nam - Đại hội XIV

Với phương châm Đoàn kết - Dân chủ - Kỷ cương - Đột phá - Phát triển, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng xác định tư duy, tầm nhìn, những quyết sách chiến lược để chúng ta vững bước tiến mạnh trong kỷ nguyên mới, thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2030 khi Đảng ta tròn 100 năm thành lập (1930 - 2030); hiện thực hoá tầm nhìn phát triển đến năm 2045, kỷ niệm 100 năm thành lập nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1945 - 2045).

Bài viết mới nhất

Bài viết mới nhất

Giá vàng trong nước và thế giới

Giá vàng trong nước và thế giới

VnEconomy cập nhật giá vàng trong nước & thế giới hôm nay: SJC, 9999, giá vàng USD/oz, biến động giá vàng tăng, giảm - phân tích, dự báo & dữ liệu lịch sử.

Bài viết mới nhất

VnEconomy Interactive

VnEconomy Interactive

Interactive là một sản phẩm báo chí mới của VnEconomy vừa được ra mắt bạn đọc từ đầu tháng 3/2023 đã gây ấn tượng mạnh với độc giả bởi sự mới lạ, độc đáo. Đây cũng là sản phẩm độc quyền chỉ có trên VnEconomy.

Bài viết mới nhất

Trợ lý thông tin kinh tế Askonomy - Asko Platform

Trợ lý thông tin kinh tế Askonomy - Asko Platform

Trong kỷ nguyên trí tuệ nhân tạo, đặc biệt là generative AI, phát triển mạnh mẽ, Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy đã tiên phong ứng dụng công nghê để mang đến trải nghiệm thông tin đột phá với chatbot AI Askonomy...

Bài viết mới nhất

[Interactive]: Toàn cảnh kinh tế Việt Nam tháng 5/2026

[Interactive]: Toàn cảnh kinh tế Việt Nam tháng 5/2026

CEO Ngân hàng: Chuyển từ thử nghiệm sang khai thác AI và dữ liệu quy mô lớn

CEO Ngân hàng: Chuyển từ thử nghiệm sang khai thác AI và dữ liệu quy mô lớn

Hợp lực xây dựng giao thông thông minh tại Việt Nam

Hợp lực xây dựng giao thông thông minh tại Việt Nam

Asko AI Platform

Askonomy AI

...

icon

Thuế đối ứng của Mỹ có ảnh hướng thế nào đến chứng khoán?

Chính sách thuế quan mới của Mỹ, đặc biệt với mức thuế đối ứng 20% áp dụng từ ngày 7/8/2025 (giảm từ 46% sau đàm phán), có tác động đáng kể đến kinh tế Việt Nam do sự phụ thuộc lớn vào xuất khẩu sang Mỹ (chiếm ~30% kim ngạch xuất khẩu). Dưới đây là phân tích ngắn gọn về các ảnh hưởng chính:

VnEconomy