Bộ Nội vụ ban hành Thông tư số 14/2026/TT-BNV quy định chi tiết việc điều chỉnh lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hằng tháng theo Nghị định số 162/2026/NĐ-CP của Chính phủ.
Theo Thông tư có hiệu lực từ ngày 1/7/2026, từ ngày này, mức lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hằng tháng của các đối tượng đang hưởng trước ngày 1/7/2026 được điều chỉnh tăng 8% so với mức hưởng của tháng 6/2026.
Cụ thể, mức lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội, trợ cấp hằng tháng từ tháng 7/2026 = Mức lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội, trợ cấp hằng tháng của tháng 6/2026 x 1,08.
Đối với người nghỉ hưởng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội, hoặc trợ cấp hằng tháng trước ngày 1/1/1995, sau khi được điều chỉnh tăng 8% mà mức hưởng vẫn thấp, thì tiếp tục điều chỉnh để bảo đảm đời sống cho người hưởng.
Theo đó, người có mức hưởng từ 3,5 triệu đồng/tháng trở xuống được tăng thêm 300.000 đồng/tháng. Công thức tính như sau: Mức lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội, trợ cấp hằng tháng từ tháng 7/2026 = Mức lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội, trợ cấp hằng tháng sau khi được điều chỉnh + 300.000 đồng/tháng.
Trường hợp người có mức hưởng trên 3,5 triệu đồng/tháng nhưng dưới 3,8 triệu đồng/tháng, thì được nâng lên bằng mức 3,8 triệu đồng/tháng. Như vậy, mức lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội, trợ cấp hằng tháng từ tháng 7/2026 của nhóm này bằng 3,8 triệu đồng/tháng.
Đối tượng đang hưởng trợ cấp tuất hằng tháng, trợ cấp phục vụ theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội trước ngày 1/7/2026, thì mức hưởng trợ cấp tuất hằng tháng từ ngày 1/7/2026 được tính theo mức lương cơ sở quy định tại Nghị định số 161/2026/NĐ-CP.
Thông tư giao Bảo hiểm xã hội Việt Nam tổ chức triển khai thực hiện, tổng hợp kết quả điều chỉnh và báo cáo Bộ Nội vụ, Bộ Tài chính trước ngày 31/12/2026. Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có trách nhiệm chỉ đạo các cơ quan liên quan kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện.
Luật Bảo hiểm xã hội 2024 có hiệu lực từ 1/7/2025 quy định mức hưởng lương hưu tối đa vẫn được duy trì ở mức 75%. Đối với lao động nam, nếu đóng bảo hiểm xã hội từ 15 năm đến dưới 20 năm, thì 15 năm đóng đầu tiên sẽ tương ứng với 40% mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội. Mỗi năm đóng thêm sau đó (từ năm thứ 16 đến năm thứ 19) sẽ được cộng thêm 1%. Như vậy, nếu đóng đủ 20 năm, tỷ lệ hưởng sẽ là 45%.
Nếu đóng bảo hiểm xã hội từ 20 năm trở lên, thì 20 năm đóng đầu tiên sẽ tương ứng với 45% mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội. Sau đó, cứ mỗi năm đóng thêm (từ năm thứ 21 trở đi) sẽ được cộng thêm 2%.
Đối với lao động nữ, người đóng bảo hiểm xã hội 15 năm sẽ được hưởng tỷ lệ 45% mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội. Sau đó, cứ mỗi năm đóng thêm (từ năm thứ 16 trở đi) sẽ được cộng thêm 2%.
Theo số liệu từ Bảo hiểm xã hội Việt Nam, cả nước hiện có hơn 3,5 triệu người hưởng lương hưu và trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng. Ngoài lương hưu hằng tháng, người đủ điều kiện hưởng lương hưu còn được cấp thẻ bảo hiểm y tế miễn phí.
Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Hoàng Minh Sơn nhấn mạnh năm học 2026-2027 phải tạo chuyển biến thực chất, lấy kết quả làm thước đo, đồng thời xác định mục tiêu xây dựng nền giáo dục công bằng, chất lượng và trung thực...
Bão đang tiến gần Biển Đông, trong khi Bắc Bộ tiếp tục đối mặt với một đợt mưa lớn kéo dài, làm gia tăng nguy cơ lũ quét, sạt lở đất và ngập úng tại nhiều địa phương. Các cơ quan chức năng đã phát đi cảnh báo, đồng thời triển khai các biện pháp ứng phó nhằm giảm thiểu thiệt hại do thiên tai...
Dự án được Chính phủ Cộng hòa Liên bang Đức tài trợ không hoàn lại thông qua Ngân hàng Tái thiết Đức, với tổng vốn 15 triệu Euro. Thời gian triển khai đến 30/12/2030...
Nhu cầu tuyển dụng lao động quý 2/2026 có sự dịch chuyển động lực giữa hai trung tâm kinh tế lớn nhất cả nước, khi Hà Nội đã vươn lên dẫn đầu cả về quy mô lẫn tốc độ tăng trưởng tuyển dụng, phản ánh xu hướng mở rộng hoạt động sản xuất, kinh doanh và đầu tư của doanh nghiệp tại khu vực phía Bắc…
Qua tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho thấy có 47 nội dung không rõ ràng, gây khó khăn, vướng mắc, tạo “điểm nghẽn” trong áp dụng, thực hiện pháp luật, cản trở quá trình phát triển...
Tổng lượng phát thải ròng của Việt Nam liên tục tăng qua các giai đoạn, ước tính lượng phát thải ròng năm 2030 là 927 triệu tấn, năm 2050 là 1.500 triệu tấn. Như vậy, để đạt được mục tiêu Net Zero thì nhu cầu sản xuất và cung ứng, bù trừ tín chỉ carbon là khá lớn.
Việc chuẩn bị đầy đủ về thể chế, năng lực kỹ thuật và nguồn lực là điều kiện tiên quyết để tham gia hiệu quả, minh bạch vào thị trường carbon toàn cầu. Đó là khẳng định của Phó Cục trưởng Cục Biến đổi Khí hậu, Bộ Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Tuấn Quang.